SỐ LƯỢT TRUY CẬP

2
8
0
3
5
8
5
0
Tin tức sự kiện 12 Tháng Mười 2020 8:55:00 SA

Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ TPHCM khóa X tại Đại hội đại biểu Đảng bộ TPHCM lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020-2025

PHẦN THỨ NHẤT

KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LẦN THỨ X

A. PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ ĐẢM BẢO QUỐC PHÒNG - AN NINH 

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ 

1. Kết quả 

1.1. Tăng trưởng kinh tế 

Kinh tế thành phố tăng trưởng khá, tiếp tục giữ vững vị trí là đầu tàu kinh tế của cả nước, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) giai đoạn 2016 - 2019 tăng bình quân 7,72%, ước giai đoạn 2016 - 2020 tăng bình quân 6,41%1, tỷ trọng kinh tế thành phố đóng góp trên 22,2% kinh tế cả nước.

Chất lượng tăng trưởng kinh tế được cải thiện, cơ bản dựa trên nền tảng đổi mới sáng tạo, khoa học - công nghệ, thể hiện qua cả 3 chỉ số: (1) đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào GRDP tăng liên tục qua các năm; (2) năng suất lao động bình quân của thành phố cao hơn 2,6 lần so với bình quân cả nước; (3) hiệu quả sử dụng vốn đầu tư được nâng lên2. GRDP đầu người tăng liên tục qua các năm, bình quân gấp 2,4 lần so với cả nước3

1.2. Phát triển dịch vụ

Các ngành dịch vụ phát huy hiệu quả vai trò là ngành mũi nhọn, phát triển đúng định hướng, đạt kết quả cao cả về quy mô4 và năng suất5, tăng trưởng bình quân trong giai đoạn 2016 - 2019 đạt 7,84%, ước giai đoạn 2016 - 2020 đạt 6,59%/năm; giá trị gia tăng dịch vụ chiếm tỷ trọng bình quân 33% toàn ngành, đứng đầu cả nước. Ngành thương mại phát triển theo hướng hiện đại, nhất là thương mại điện tử. Hệ thống phân phối hiện đại đã phát triển về số lượng và chất lượng6, gia tăng lưu thông hàng hóa và thúc đẩy sản xuất7.

Chỉ số thương mại điện tử dẫn đầu cả nước qua các năm8. Tỷ trọng doanh số mua bán trực tuyến trên tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 8,14%. Kinh tế thành phố có độ mở thương mại lớn, kim ngạch xuất nhập khẩu chiếm 145% GRDP thành phố. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa giai đoạn 2016 - 2019 tăng bình quân 10%, giai đoạn 2016 - 2020 ước 8,94%/năm9. Quy mô xuất khẩu chiếm 15% cả nước. Thị trường xuất khẩu đa dạng, không lệ thuộc một thị trường, một đối tác. 

Ngành vận tải, kho bãi giai đoạn 2016 - 2019 tăng bình quân 9%/năm, chiếm khoảng 9,8% GRDP. Ngành du lịch thành phố tiếp tục dẫn đầu cả nước, được đánh giá, xếp hạng cao trên bản đồ du lịch của khu vực và trên thế giới10. Các ngành giáo dục, y tế, tài chính - ngân hàng tiếp tục phát triển mạnh, giữ vững vị trí là một trung tâm lớn của cả nước5

1.3. Phát triển công nghiệp - xây dựng

Ngành công nghiệp tăng trưởng khá: Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng bình quân giai đoạn 2016 - 2019 đạt 7,70%/năm, ước giai đoạn 2016 - 2020 đạt 5,51%/năm11, giá trị tăng thêm công nghiệp chiếm 17,93% GRDP, đứng đầu cả nước. 04 ngành công nghiệp trọng yếu ước tăng 9%/năm12, cao hơn mức tăng chung của toàn ngành công nghiệp, chiếm tỷ trọng 10,2% GRDP, là động lực cho tăng trưởng công nghiệp của thành phố trong thời gian qua. Tỷ lệ nội địa hóa của 4 ngành công nghiệp trọng yếu và 2 ngành công nghiệp truyền thống tăng qua các năm, đạt chỉ tiêu 66% vào năm 2020. Thành phố đã ban hành danh mục, xây dựng chính sách phát triển nhóm sản phẩm công nghiệp chủ lực, bước đầu đã hình thành được mạng lưới các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, tham gia ngày càng nhiều vào chuỗi cung ứng toàn cầu13.

Khu Công nghệ cao thành phố đã phát triển mạnh mẽ, tổng giá trị xuất khẩu 4 năm đạt 46,36 tỷ USD, ước năm 2020 là 17,24 tỷ USD, là hạt nhân thúc đẩy sự phát triển của Khu Đô thị Sáng tạo tương tác cao phía Đông thành phố, là nơi cung cấp và nuôi dưỡng những ý tưởng khoa học và công nghệ, thu hút vốn, công nghệ, nhân lực công nghệ cao trong và ngoài nước, thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư14.

Việc ứng dụng công nghệ xây dựng mới, áp dụng tiêu chuẩn công trình sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, phát triển công trình xanh từng bước được triển khai15.

 1.4. Phát triển nông nghiệp

Ngành nông nghiệp phát triển đúng định hướng nông nghiệp đô thị16 hiện đại, năng suất lao động gấp hơn 3 lần cả nước, tập trung vào các ngành nông nghiệp công nghệ cao17, công nghệ sinh học. Năng suất lao động tăng bình quân giai đoạn 2016 -2019 đạt 21,1%/năm, giai đoạn 2016 - 2020 đạt 23%/năm18. Các sản phẩm chủ lực được xác định và đầu tư phát triển mạnh mẽ. Giá trị sản xuất bình quân trên 01 ha đất sản xuất nông nghiệp năm 2019 đạt 550 triệu đồng/ha/năm, gấp 1,5 lần năm 2015 (367 triệu đồng/ha/năm). Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng bình quân ngành nông nghiệp giai đoạn 2016 - 2019 đạt 5,23%, giai đoạn 2016 - 2020 đạt 4,72%/năm19 (cao hơn bình quân cả nước 2,5%/năm).

Đề án nâng cao chất lượng các tiêu chí xây dựng nông thôn mới tại 56 xã giai đoạn 2016 - 2020 và đề án xây dựng huyện nông thôn mới của 5 huyện ngoại thành tiếp tục được triển khai thực hiện và đạt được những kết quả quan trọng, đến cuối năm 2020 có 56/56 (100%) xã được công nhận cơ bản đạt chuẩn nông thôn mới giai đoạn nâng chất, đời sống Nhân dân tại các xã được nâng cao20.

1.5. Phát triển các thị trường

Các thị trường được mở rộng quy mô, đổi mới phương thức giao dịch, hoạt động ngày càng hiệu quả, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế thành phố. 

Thị trường hàng hóa: Thương mại, dịch vụ đạt quy mô lớn, duy trì mức tăng trưởng khá; từng bước hình thành các cơ chế, chính sách để hỗ trợ thị trường bán lẻ trong nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; sự phát triển của thương mại điện tử đang là xu thế quan trọng trong các năm gần đây. 

Thị trường tài chính, tiền tệ, thị trường vốn giữ vững vai trò là trung tâm tài chính, tiền tệ của cả nước21. Huy động vốn của các tổ chức tín dụng liên tục tăng trưởng, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016 - 2019 gấp hơn 1,4 lần so với giai đoạn 2011 - 2015, tiếp tục đáp ứng tốt hơn nhu cầu vốn cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cá nhân22,... Tiến hành xây dựng Đề án phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm tài chính khu vực và quốc tế. 

Thị trường bất động sản: Phát triển mạnh mẽ, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu nhà ở của người dân; trong giai đoạn từ năm 2016 đến nay, diện tích bình quân nhà ở toàn thành phố đã tăng lên đáng kể (từ mức 17,32 m2/người năm 2015 lên 20,4 m2/người vào năm 2020). Các chủ thể tham gia thị trường bất động sản từng bước được hoàn thiện, góp phần cho thị trường phát triển23

Thị trường khoa học và công nghệ thành phố tăng trưởng về quy mô, góp phần hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ mới, nâng cao năng lực sản xuất và khả năng cạnh tranh24

Thị trường lao động tiếp tục phát triển; xã hội hóa hoạt động đào tạo nghề được đẩy mạnh gắn với nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp, chú trọng đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, tăng nhanh tỷ lệ lao động qua đào tạo25

1.6. Huy động các nguồn lực để phát triển kinh tế thành phố

Công tác quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế đã có đóng góp quan trọng vào sự nghiệp đổi mới, phát triển và hội nhập của thành phố.

Nguồn nhân lực: Lao động thành phố là 4,7 triệu người vào năm 2019, chiếm  8,62% lao động cả nước. Tỷ lệ lao động qua đào tạo là 85,2%, tỷ lệ lao động có trình độ đại học trở lên là 18,8%, cao hơn cả nước (cả nước là 10,6%), đây là cơ sở quan trọng góp phần đưa năng suất lao động của thành phố cao gấp 2,6 lần của cả nước.

Nguồn lực đất đai: Thành phố có nguồn lực đất đai rất hạn chế, chỉ chiếm 0,6% diện tích cả nước26. Trong nhiệm kỳ, cơ cấu sử dụng đất đã chuyển dịch theo hướng mở rộng quỹ đất phát triển kết cấu hạ tầng, công nghiệp, dịch vụ, xây dựng đô thị, đất có rừng, gắn với việc khoanh định hợp lý hơn diện tích đất sản xuất nông nghiệp theo quy hoạch27; từng bước đưa đất đai trở thành nguồn lực quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội thành phố28

Nguồn lực vốn đầu tư toàn xã hội: Tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân giai đoạn 2016 - 2019 chiếm 33,0%, ước giai đoạn 2016 - 2020 chiếm 33,5% tổng GRDP của thành phố29, vượt kế hoạch đề ra là 30% GRDP. Cơ cấu đầu tư chuyển dịch theo hướng tỷ trọng khu vực Nhà nước giảm (chỉ còn 16,7%), tăng tỷ trọng đầu tư khu vực ngoài Nhà nước là 69,1%30; tỷ trọng khu vực FDI giữ ổn định, khoảng 14,2%. Nguồn kiều hối giai đoạn 2016 - 2020 ước đạt khoảng 25,7 tỷ USD, tăng 7,14% so với giai đoạn 2011 - 2015, đã góp phần phát triển kinh tế - xã hội của thành phố31.

Nguồn lực ngân sách: Thành phố luôn nỗ lực hoàn thành chỉ tiêu thu ngân sách nhà nước được giao dù năm sau cao hơn năm trước32, giai đoạn 2016 - 2019 đạt 101,96%, ước giai đoạn 2016 - 2020 đạt 99,4% so với dự toán. Tốc độ tăng thu ngân sách nhà nước từ khu vực kinh tế giai đoạn 2016 - 2019 đạt 11,39%, cao hơn so với tốc độ tăng của cả nước (9,29%) và tốc độ tăng trưởng GRDP của thành phố33. Thu ngân sách thành phố luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất cả nước (năm 2019 khoảng 27%)34

Chi ngân sách địa phương: Giai đoạn 2016 - 2019, trong điều kiện nguồn thu được hưởng theo phân cấp hạn hẹp (tỷ lệ điều tiết các khoản thu phân chia cho ngân sách thành phố giảm từ 23% xuống còn 18%, đây là giai đoạn có tỷ lệ điều tiết giảm mạnh so với các giai đoạn trước) 35, thành phố phải cân đối ngân sách để phân bổ hợp lý, đảm bảo thực hiện nhiệm vụ chi ngân sách hàng năm36

1.7. Phát triển các thành phần kinh tế và mô hình kinh doanh

Doanh nghiệp nhà nước đang triển khai kế hoạch37 cổ phần hóa. Tỷ trọng đóng góp trong kinh tế thành phố có xu hướng giảm, chiếm khoảng 14,2% GRDP năm 2020, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016 - 2019 đạt 6,44%/năm, giai đoạn 2016 - 2020 đạt 6,61%/năm. 

Doanh nghiệp thuộc khu vực ngoài nhà nước38 phát triển mạnh mẽ, tăng trưởng bình quân 7,9%/năm giai đoạn 2016 - 2019, đóng góp bình quân 55% GRDP, tăng 55% về số lượng so với giai đoạn trước, tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn theo đúng định hướng, tạo việc làm cho người dân thành phố và người dân các tỉnh khác đến thành phố làm việc39.

Doanh nghiệp nước ngoài40 có tổng vốn đầu tư cấp mới và điều chỉnh đầu tư, góp vốn mua cổ phần giai đoạn 2016 - 2019 là 25,2 tỷ USD, giai đoạn 2016 - 2020 là 29,2 tỷ USD41, tăng trưởng bình quân 8,59%/năm giai đoạn 2016 - 2019, đóng góp bình quân 18% GRDP. 

Số lượng hợp tác xã được tăng lên, chất lượng được cải thiện. Khu vực kinh tế hợp tác tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 6,58%/năm, đóng góp khoảng 0,5% GRDP. Các hợp tác xã bước đầu đổi mới về phương thức hoạt động42, phù hợp hơn với cơ chế thị trường hiện nay. 

Mô hình kinh doanh kinh tế chia sẻ đã phát triển bước đầu qua mô hình vận tải ứng dụng công nghệ với tổng số người lao động tham gia khoảng 315.000 người.

1.8. Hợp tác, liên kết phát triển với các tỉnh miền Đông, Tây Nam bộ và các tỉnh, thành phố khác

Thành phố Hồ Chí Minh có vị trí, vai trò rất quan trọng43 của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước. Giai đoạn 2016 - 2020, thành phố và các tỉnh trong Vùng đã triển khai liên kết về cung cầu hàng hóa, phát triển giao thông, du lịch, bảo vệ môi trường, kiểm soát dịch bệnh, đào tạo nguồn nhân lực để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của Vùng44. Các doanh nghiệp thành phố đã đầu tư và góp phần hình thành nhiều khu công nghiệp ở các tỉnh, giải quyết việc làm cho người dân ở các địa phương và giảm áp lực di dân trong độ tuổi lao động đến Thành phố Hồ Chí Minh.

Đặc biệt, trong 2 năm 2019 - 2020, thành phố đã đẩy mạnh hoạt động hợp tác liên kết phát triển, tăng cường hoạt động kết nối giao thông với tỉnh Tây Ninh, ký kết hoạt động hợp tác phát triển du lịch với các tỉnh, thành Đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh miền Đông Nam bộ giai đoạn 2020 - 202545, đồng thời, xây dựng kế hoạch tổ chức diễn đàn phát triển du lịch với các tỉnh vùng Trung bộ, vùng Tây Bắc và Đông Bắc. Chuỗi công viên phần mềm Quang Trung phát triển mạnh đến các tỉnh, tạo thương hiệu đặc trưng của thành phố với vai trò đi đầu về công nghệ thông tin.

2. Hạn chế, yếu kém 

Do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2020 chưa đạt kế hoạch đề ra, là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến mức tăng trưởng kinh tế cả nhiệm kỳ chưa đạt chỉ tiêu đề ra (8,0 - 8,5%/năm); thành phố chưa phát huy hết tiềm năng, thế mạnh. Mục tiêu nâng cao tính hấp dẫn, tính cạnh tranh của môi trường kinh doanh của thành phố, chỉ số cạnh tranh địa phương thuộc nhóm 5 tỉnh, thành phố tốt nhất cả nước chưa đạt. Chưa thu hút được nhiều dự án đầu tư nước ngoài và dự án đầu tư trong nước có quy mô lớn, nhất là ở lĩnh vực công nghiệp chế tạo, công nghệ cao. Việc liên kết doanh nghiệp, khoa học, đào tạo và Nhà nước hiệu quả chưa cao, nên đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao còn chậm. Cơ cấu sử dụng đất đai thành phố chưa hợp lý, tỷ lệ đất dành cho công nghiệp, dịch vụ và giao thông quá thấp. Chưa chú trọng đúng mức việc phát triển hạ tầng công nghiệp, hạ tầng dịch vụ và hạ tầng giao thông nên chưa tạo được sự dẫn dắt phát triển các ngành kinh tế và tạo đột phá về thu hút đầu tư. Sự tụt hậu về hạ tầng là điểm nghẽn lớn nhất đối với phát triển kinh tế. 

Việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước chậm, không đạt yêu cầu46. Cơ chế liên kết, hợp tác với các tỉnh trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam chưa đạt hiệu quả cao. GRDP/người của thành phố năm 2020 ước đạt 6.328 USD, không đạt kế hoạch đề ra47.

II. PHÁT TRIỂN VĂN HÓA - XÃ HỘI 

1. Kết quả 

1.1. Giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực và giải quyết việc làm

Ngành giáo dục và đào tạo tiếp tục phát triển về quy mô, nâng cao về chất lượng, thực hiện các giải pháp đột phá để có bước tiến rõ nét trên con đường hội nhập quốc tế.

Chất lượng giáo dục và đào tạo cùng chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục không ngừng được nâng cao. Tiên phong thực hiện một số chế độ, chính sách đặc thù hỗ trợ đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên bậc mầm non. 

Tăng cường trang thiết bị dạy - học hiện đại, mạnh mẽ đổi mới hình thức tổ chức, nội dung, phương pháp dạy - học, triển khai tốt các chương trình đánh giá học sinh quốc tế; chú trọng cập nhật các phương pháp giảng dạy hiện đại của thế giới. Thực hiện hiệu quả các đề án48 thuộc lĩnh vực giáo dục. Tiếp tục phân cấp mạnh mẽ cho các nhà trường trên nguyên tắc tăng quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông49. Giáo dục đại học phát triển mạnh mẽ50 theo hướng đẩy mạnh hợp tác, liên kết quốc tế51.

Tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo nghề năm 2019 đạt 84,79%, ước năm 2020 đạt 85,2% trong tổng số lao động đang làm việc. Tỷ lệ lao động qua đào tạo làm việc trong công nghệ, dịch vụ trình độ cao và các ngành công nghiệp, dịch vụ trọng điểm ước đạt 87%. Chương trình, giáo trình giáo dục nghề nghiệp được chuẩn hóa theo hướng hiện đại, từng bước thực hiện thí điểm mô hình “đào tạo kép”; học viên tốt nghiệp có chất lượng và tỷ lệ có việc làm trên 85%. 

Đa dạng hóa các giải pháp, hỗ trợ giải quyết việc làm hiệu quả cho người lao động52, hỗ trợ doanh nghiệp tạo ra việc làm, hoàn thiện công tác hướng nghiệp, dự báo thị trường lao động. Tỷ lệ thất nghiệp đô thị giảm qua các năm53, năm 2019 là 3,7%, năm 2020 ước dưới 3,7%.

Chương trình đột phá nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đã góp phần nâng cao trình độ lý luận chính trị và kiến thức quản lý nhà nước cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; đẩy mạnh công tác đào tạo, chuyển giao kỹ thuật trong các đơn vị sự nghiệp công lập; đưa nội dung đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp vào nội dung hoạt động giáo dục và đào tạo. Các trường đại học, cao đẳng đặc biệt quan tâm đến công tác kiểm định chất lượng giáo dục, nâng cao chất lượng đào tạo theo định hướng chuẩn khu vực và quốc tế54

1.2. Chăm sóc sức khỏe Nhân dân

Lĩnh vực y tế có sự tiến bộ vượt bậc, đảm bảo những điều kiện tốt để chăm lo cho sức khỏe Nhân dân; tập trung đầu tư cơ sở vật chất, đào tạo nguồn nhân lực và phát triển đồng bộ hệ thống các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo định hướng phát triển chuyên sâu; hoàn thành các chỉ tiêu đề ra55. Công tác xã hội hóa thu được những kết quả tích cực, hệ thống y tế tư nhân phát triển mạnh, đa dạng nhiều loại hình dịch vụ chăm sóc sức khỏe, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của Nhân dân. 

Bệnh viện chuyên khoa, đa khoa của thành phố triển khai nhiều kỹ thuật chuyên sâu hiện đại. Hình thành mạng lưới các trạm cấp cứu vệ tinh bao phủ địa bàn thành phố56. Năng lực khám, chữa bệnh của bệnh viện quận, huyện được nâng cao, mạng lưới y tế cơ sở được củng cố và phát triển, nhiều mô hình hiệu quả được triển khai57, góp phần giảm tải cho các bệnh viện thành phố.

Công tác phòng, chống dịch bệnh được chú trọng, kịp thời ngăn chặn không để lan rộng trên địa bàn, thành phố cùng với cả nước đã chủ động và quyết liệt triển khai các biện pháp chống dịch, toàn bộ hệ thống chính trị đã vào cuộc một cách tích cực, ngăn chặn, kiểm soát và khống chế dịch lây lan trong cộng đồng58. Hoàn thiện và phát triển mạng lưới phòng chống bệnh tật, các chương trình mục tiêu y tế - dân số được triển khai đầy đủ và đạt chỉ tiêu tại tất cả các quận, huyện. Thành lập trung tâm kiểm soát bệnh tật theo xu hướng hội nhập quốc tế. Tỷ số giới tính khi sinh hàng năm giữ ở mức hợp lý (106 bé trai/100 bé gái).

Là địa phương đầu tiên triển khai thực hiện thí điểm mô hình Ban quản lý An toàn thực phẩm59, bước đầu đã phát huy hiệu quả khi công tác bảo đảm an toàn thực phẩm60 được thống nhất một đầu mối, thuận lợi cho việc tổ chức thực hiện các hoạt động, xây dựng hệ thống thực phẩm sạch thông qua phát triển chuỗi thực phẩm an toàn, nông sản sạch, kiểm tra truy xuất nguồn gốc, quản lý chất lượng và xây dựng mô hình chợ thực phẩm an toàn.

1.3. Khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo

Hoạt động khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo giữ vững vai trò trung tâm khoa học - công nghệ của cả nước, từng bước trở thành động lực chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội gắn với phát triển kinh tế tri thức61; tập trung nghiên cứu gắn kết với thực tiễn phục vụ phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm, góp phần vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. 

Quan tâm hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu cải tiến công nghệ, hiện đại hóa thiết bị sản xuất, hỗ trợ đào tạo, tư vấn nâng cao năng suất, chất lượng và quản trị tài sản trí tuệ, tiếp cận nguồn vốn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp khẳng định giá trị thương hiệu và phát triển bền vững62

Ban hành nhiều chính sách, từng bước hình thành và phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và Thành phố Hồ Chí Minh đang trở thành cái nôi của cộng đồng doanh nghiệp khởi nghiệp trên cả nước63. Hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo được thành phố quan tâm thúc đẩy.

Từ năm 2018, thành phố đã triển khai đề án xây dựng Khu đô thị sáng tạo tương tác cao phía Đông Thành phố Hồ Chí Minh (gồm Quận 2, Quận 9 và quận Thủ Đức)64 dựa trên các trụ cột chính là Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Khu Công nghệ cao, Khu đô thị mới Thủ Thiêm,... để hình thành trung tâm động lực tăng trưởng mới trong thời kỳ cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

1.4. Thông tin - Truyền thông

a) Đẩy mạnh công tác ứng dụng công nghệ thông tin

Thành phố đã có bước phát triển về chất lượng trong cung cấp dịch vụ công trực tuyến và triển khai hệ thống một cửa điện tử. Cổng thông tin tiếp nhận và giải đáp thông tin cho người dân, tổ chức, doanh nghiệp (1022)65; đã ban hành Kiến trúc chính quyền điện tử đóng vai trò là kế hoạch tổng thể giúp định hướng triển khai một cách thống nhất và đồng bộ ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước của thành phố, hỗ trợ hiệu quả công tác cải cách hành chính, phục vụ người dân và doanh nghiệp. Quan tâm phát triển hạ tầng số, là địa phương đầu tiên triển khai mạng 5G trên cả nước.

b) Quản lý báo chí và trang thông tin điện tử tổng hợp

Hoạt động báo chí tại thành phố có tiến bộ, thực hiện tốt vai trò là cơ quan ngôn luận chính thống, cơ bản bám sát nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ thành phố, kịp thời thông tin các đợt sinh hoạt chính trị lớn của đất nước và thành phố; nêu gương người tốt, việc tốt, gương điển hình tiên tiến, góp phần định hình nhân cách con người mới; phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các phần tử cơ hội, các thế lực thù địch; đã phát hiện, đóng góp tích cực trong công tác phòng, chống tham nhũng; thực hiện cải cách hành chính, nâng cao trách nhiệm công chức phục vụ Nhân dân, góp phần đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Trung tâm báo chí Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập, phát huy tác dụng tốt. Triển khai có hiệu quả Đề án quản lý nội dung thông tin trên Internet tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2016 - 2020. 

c) Hoạt động xuất bản

Hoạt động xuất bản đã đáp ứng nhu cầu của Nhân dân và theo đúng định hướng, nội dung xuất bản phẩm đa dạng và phong phú hơn, thu hút được sự quan tâm của nhiều độc giả, người yêu sách. Triển khai nhiều hoạt động66 và nhân rộng các mô hình đưa văn hóa đọc đến đông đảo Nhân dân, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của bạn đọc, từng bước thích ứng tốt hơn với cơ chế thị trường. Hoạt động 

xuất bản trên địa bàn thành phố các năm qua đã góp phần tích cực vào việc bảo vệ và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

1.5. Văn hóa, văn học nghệ thuật, thể dục, thể thao

a) Văn hóa

Thành phố chú trọng xây dựng văn hóa, con người Thành phố Hồ Chí Minh phát triển toàn diện; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, bám sát định hướng mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa; từng bước thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hóa giữa nội thành và ngoại thành, giữa các khu vực dân cư và các giai tầng xã hội; phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa.

Các hoạt động kỷ niệm, tuyên truyền, cổ động chính trị được tổ chức hiệu quả, đa dạng, phong phú; công tác duy tu, bảo dưỡng các bảo tàng, di tích lịch sử văn hóa được đẩy mạnh, đảm bảo phục vụ tốt cho du lịch và yêu cầu nhiệm vụ chính trị, luôn gắn với giáo dục lòng yêu nước, truyền thống lịch sử cách mạng của dân tộc, đồng thời đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao và đa dạng của Nhân dân. 

Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ngày càng được nâng chất, cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, tạo sự lan tỏa và phát huy tích cực trong đời sống xã hội67. Hệ thống thiết chế văn hóa ngày càng hoàn thiện đã phát huy hiệu quả, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; phục vụ đa dạng nhu cầu học tập, sinh hoạt văn hóa, vui chơi giải trí cho Nhân dân, góp phần đẩy lùi các tệ nạn xã hội và củng cố tinh thần đoàn kết trong cộng đồng dân cư. Triển khai thực hiện thí điểm Bộ tiêu chí ứng xử trong gia đình và Kế hoạch chiến lược phát triển gia đình Việt Nam. Công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được quan tâm. Bảo tồn và phát huy hiệu quả các loại hình nghệ thuật truyền thống của dân tộc, đặc biệt các loại hình nghệ thuật đặc trưng Nam Bộ. Công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa đã có những chuyển biến tích cực, không phát sinh trường hợp xâm hại khu vực bảo vệ các di tích đã được xếp hạng.

b) Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật tiếp tục có bước phát triển. Hoạt động sáng tạo, sáng tác, quảng bá, biểu diễn các tác phẩm văn học nghệ thuật được quan tâm đầu tư có trọng tâm, trọng điểm và đạt được nhiều kết quả; nhiều khuynh hướng sáng tác, biểu diễn nghệ thuật lành mạnh, tích cực được phát huy. Sản phẩm văn học nghệ thuật phát triển mạnh mẽ về số lượng, đa dạng, phong phú về loại hình và đề tài, góp phần tích cực xây dựng nhân cách, bồi đắp tâm hồn con người, đáp ứng nhu cầu đời sống văn hóa của Nhân dân.

c) Thể dục, thể thao

Phong trào thể dục, thể thao quần chúng ngày càng phát triển sâu rộng trong cộng đồng. Tỷ lệ người tập luyện thường xuyên tăng dần qua các năm68. Hệ thống giải thể thao thành phố đa dạng và phong phú, được tổ chức thường xuyên. Lực lượng huấn luyện viên, vận động viên các môn thể thao trong những năm qua đã đạt được nhiều huy chương tại các giải vô địch thể thao cấp quốc gia, Đông Nam Á, Châu Á, thế giới. Trình độ thi đấu quốc tế của vận động viên thuộc các môn thể thao trọng điểm ngày càng được nâng cao, số huy chương giành được tại các giải quốc tế chính thức tăng về số lượng.

1.6. Chăm lo người có công, hỗ trợ người nghèo, bảo vệ người lao động

Thực hiện tốt công tác chăm lo chính sách đối với người có công, đảm bảo thực hiện các chế độ trợ cấp và các chế độ ưu đãi trong giáo dục và đào tạo, nhà ở, bảo hiểm y tế; các nghĩa trang liệt sĩ thường xuyên được tu bổ và nâng cấp; tiếp tục tổ chức tốt việc tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ về an táng tại nghĩa trang liệt sĩ.

Đến cuối năm 2018, đã hoàn thành mục tiêu cơ bản không còn hộ nghèo theo chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ X về “Giảm tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn chương trình “Giảm nghèo bền vững” giai đoạn 2016 - 2020 bình quân 1%/năm” và tiếp tục triển khai thực hiện Chương trình giảm nghèo bền vững 02 năm cuối (2019 - 2020) của giai đoạn 2016 - 2020. Đến cuối năm 2020, hoàn thành mục tiêu “cơ bản không còn hộ nghèo theo chuẩn nghèo thành phố” 69.

Thực hiện tốt chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng; hoạt động của hệ thống an sinh xã hội được bảo đảm, góp phần chăm lo cho những người yếu thế, có hoàn cảnh khó khăn. Triển khai có hiệu quả Đề án “Phát triển quan hệ lao động giai đoạn 2014 - 2020”, tình hình đình công giảm rõ rệt. Vận động toàn dân tham gia bảo hiểm xã hội đạt kết quả tốt70.

2. Hạn chế, yếu kém 

Chất lượng đào tạo nguồn nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu phát triển và hội nhập của thành phố. Áp lực gia tăng dân số cơ học ở một số quận - huyện cao, dẫn đến sĩ số bình quân trên lớp cao, gây ảnh hưởng nhiều đến việc nâng cao chất lượng giáo dục. Công tác phối hợp quản lý các cơ sở giáo dục - đào tạo, nhất là với khối ngoài công lập còn hạn chế. Quy hoạch mạng lưới giáo dục nghề nghiệp chưa hiệu quả, cơ sở giáo dục nghề nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu.

Tình trạng quá tải tại các bệnh viện tuyến thành phố vẫn còn do đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị, nhân lực y tế chưa được đáp ứng đầy đủ. Tinh thần, thái độ phục vụ của nhân viên y tế ở một số cơ sở y tế vẫn còn hạn chế. Tỷ suất sinh liên tục giảm trong các năm, hiện ở mức rất thấp (1,35 con/phụ nữ).

Chế độ chính sách để thúc đẩy khoa học - công nghệ phát triển còn hạn chế, chưa phát huy hết nguồn lực khoa học - công nghệ của thành phố. Mối liên kết trong hoạt động khoa học và công nghệ giữa trường - viện và doanh nghiệp chưa thực sự chặt chẽ và bền vững. Doanh nghiệp chưa quan tâm đầu tư nhiều vào hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ mới và sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu thị trường. Còn thiếu nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao, những chuyên gia đầu ngành, nhất là trong các lĩnh vực trọng điểm như công nghệ sinh học, công nghệ vi mạch, công nghệ nano, trí tuệ nhân tạo,... Cơ sở vật chất phục vụ hoạt động nghiên cứu khoa học và khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, nhất là trong lĩnh vực công nghệ cao, chưa đáp ứng nhu cầu phát triển.

Hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao được đầu tư còn thấp so với nhu cầu. Việc trùng tu, tôn tạo, bảo quản các di tích chưa được quan tâm kịp thời. Việc lập hồ sơ xếp hạng di tích còn chậm. Chưa có giải pháp hiệu quả để quản lý chặt chẽ việc du nhập văn hóa phẩm không lành mạnh, làm ảnh hưởng tiêu cực đến lối sống và văn hóa dân tộc. Tác phẩm văn học nghệ thuật có chất lượng tư tưởng và nghệ thuật cao chưa nhiều. 

Hoạt động lý luận phê bình văn học nghệ thuật còn yếu; đội ngũ lý luận phê bình vừa thiếu, vừa bị hụt hẫng thế hệ kế thừa. Tình hình vi phạm bản quyền tác giả, tác phẩm, in lậu, bán sách giả vẫn còn diễn ra phức tạp.

Công tác quản lý nhà nước về báo chí vẫn còn xảy ra tình trạng tin, bài chưa chính xác, chưa phù hợp, có tác động, ảnh hưởng đến nhận thức của người dân. 

Việc đảm bảo thực thi các quyền của trẻ em, bảo vệ và tránh các nguy cơ bị xâm hại, bạo lực, lao động sớm, vi phạm quyền trẻ em đối với một bộ phận trẻ em trong quá trình nhập cư ở thành phố còn nhiều khó khăn, hạn chế. Kết quả phòng, chống, kiểm soát và cai nghiện ma túy chưa đáp ứng yêu cầu đề ra. 

III. QUẢN LÝ VÀ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ

1. Kết quả 

Công tác quy hoạch hạ tầng đô thị có tiến bộ, chỉnh trang và phát triển đô thị có bước chuyển biến tích cực, thực hiện bước đầu có hiệu quả công tác giảm ngập nước, giảm ô nhiễm môi trường, đảm bảo cung cấp nước sạch cho người dân, không ngừng phát triển giao thông, giảm ùn tắc và giảm tai nạn giao thông và tiên phong triển khai xây dựng thành phố thông minh.

1.1. Công tác quy hoạch

Hoàn tất rà soát quy hoạch, hoàn thành việc phủ kín quy hoạch phân khu trên địa bàn thành phố, góp phần tích cực trong phục vụ công tác quản lý phát triển quy hoạch, phát triển kinh tế - xã hội của thành phố, tạo điều kiện cho sự phát triển quy hoạch ngành, lĩnh vực và khai thác, sử dụng đất đai hiệu quả cho yêu cầu phát triển bền vững. Tổ chức phối hợp các nguồn lực trong và ngoài nước nghiên cứu đề xuất ý tưởng quy hoạch phát triển một số khu vực có động lực phát triển mới. Ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin, chính quyền số trong công khai thông tin quy hoạch, góp phần cải cách hành chính và tăng cường sự giám sát và tăng sự hài lòng của người dân trong điều chỉnh các chính sách và trong công tác quản lý đô thị.

1.2. Chỉnh trang và phát triển đô thị

Công tác chỉnh trang và phát triển đô thị có nhiều chuyển biến, vừa giải quyết cải tạo, chỉnh trang khu vực nội thành, vừa giải quyết về đầu tư và nâng cao chất lượng theo hướng văn minh, hiện đại. Việc xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ công tác bảo tồn cảnh quan kiến trúc đô thị được quan tâm đẩy mạnh. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị, cung cấp nước sạch, giảm thất thoát nước, đảm bảo việc cung cấp nước sạch liên tục cho người dân; tăng mảng xanh công viên cho khu vực nội thành,... đã được nâng cấp và cải thiện đáng kể. Các hạng mục hạ tầng xã hội đô thị đã được quan tâm đầu tư, gồm trường học, bệnh viện, các thiết chế văn hóa. Các dịch vụ hạ tầng đô thị cũng phát triển mạnh mẽ, các khu dân cư, khu đô thị mới đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật và xã hội được tiếp tục đầu tư và hoàn thành theo 04 hướng phát triển của thành phố, góp phần xây dựng đô thị văn minh, hiện đại71.

Chương trình chỉnh trang và phát triển đô thị đã quan tâm di dời và tổ chức lại cuộc sống cho người dân đang sống trên và ven kênh, rạch với 2.487 căn, đạt 12,4% kế hoạch; cải tạo, sửa chữa và xây dựng mới 222 chung cư, đạt 93,67% kế hoạch; nâng cấp, chỉnh trang các khu dân cư hiện hữu; phát triển các đô thị mới. Công tác quản lý trật tự xây dựng được quan tâm chỉ đạo quyết liệt, kéo giảm mạnh mẽ tình trạng xây dựng không phép, sai phép72.

1.3. Giảm ngập nước 

Công tác xóa, giảm ngập nước đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp công trình và phi công trình, đạt được những kết quả nhất định, góp phần phát triển sản xuất, phòng chống ngập úng khu dân cư, cải thiện môi trường sinh thái và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân thành phố. Việc hợp tác ứng dụng khoa học - công nghệ, nghiên cứu xây dựng kịch bản, chiến lược tổng thể chống ngập và xử lý nước thải cho thành phố đã đạt được những kết quả tích cực.

Cơ bản giải quyết tình trạng ngập do triều cường; tình hình ngập do mưa được cải thiện, số điểm ngập đã giảm trên cả 03 tiêu chí (giảm số điểm ngập, số lần ngập và thời gian ngập)73. Công tác phòng, chống biến đổi khí hậu được quan tâm; chủ động và tích cực trong việc hợp tác với các bộ, ngành Trung ương, các tổ chức quốc tế để xây dựng các phương án ứng phó với sự tác động của biến đổi khí hậu.

1.4. Giảm ô nhiễm môi trường và công tác quản lý tài nguyên 

Công tác quản lý đô thị gắn với quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đạt nhiều kết quả tích cực. Quản lý tài nguyên đất đai ngày càng tiến bộ, phần lớn đất đai đã được đưa vào sử dụng hiệu quả. Cơ bản hoàn thành công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được rút gọn, giải quyết kịp thời giúp các dự án đẩy nhanh tiến độ, người sử dụng bị thu hồi đất sớm nhận được tiền bồi thường, tái định cư để ổn định đời sống. Cơ sở dữ liệu đất đai được tập trung thực hiện, thống nhất tại 24 quận, huyện. Xử lý dứt điểm các dự án đã được giao đất, cho thuê đất nhưng chậm triển khai thực hiện. 

Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các khu xử lý chất thải rắn của thành phố; tích cực triển khai xử lý rác thải sinh hoạt theo công nghệ mới (đốt rác phát điện); các công trình cấp, thoát nước; các công trình xử lý nước thải sinh hoạt74, nước thải công nghiệp, nước thải y tế đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn Việt Nam về môi trường.

Cuộc vận động “Người dân Thành phố Hồ Chí Minh không xả rác ra đường và kênh rạch, vì thành phố sạch và giảm ngập nước” đạt được kết quả rất tích cực, trên 98% phường, xã, thị trấn được công nhận đạt tiêu chí “sạch, không xả rác ra đường và kênh rạch”, đã góp phần nâng cao ý thức người dân trong công tác bảo vệ môi trường75; tình hình ô nhiễm môi trường đã từng bước được kiểm soát, chương trình di dời các cơ sở gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn thành phố đang được tiếp tục triển khai76. Chương trình giảm ô nhiễm môi trường đã đạt được nhiều kết quả quan trọng77. Công tác quản lý tài nguyên nước, khóang sản ngày càng chặt chẽ.

1.5. Cấp nước sạch

Đã cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng của người dân thành phố, hoàn thành chỉ tiêu 100% hộ dân được cung cấp nước sạch; tiếp tục triển khai phát triển mạng lưới cấp nước thay thế cho các giải pháp tạm thời tại những khu vực có đủ điều kiện về hạ tầng; triển khai có hiệu quả công tác kéo giảm tỷ lệ nước thất thoát, giảm khai thác nước ngầm. Công tác đảm bảo an ninh nguồn nước được tăng cường, cung cấp nước đảm bảo chất lượng đến với người dân.

1.6. Phát triển giao thông, giảm ùn tắc và giảm tai nạn giao thông 

Đã tập trung huy động các nguồn lực để phát triển hệ thống hạ tầng giao thông, hoàn thành và đưa vào sử dụng nhiều công trình giao thông trọng điểm, góp phần cải thiện giao thông các cửa ngõ ra vào thành phố và các khu vực Cảng Cát Lái78, sân bay Tân Sơn Nhất.

Công tác tổ chức phân luồng giao thông được thực hiện thường xuyên, liên tục; công tác bảo trì và xử lý các bất cập về hạ tầng giao thông được thực hiện kịp thời; vận tải hành khách công cộng nỗ lực cải thiện điều kiện cơ sở vật chất; tai nạn giao thông được kéo giảm qua các năm (cả 3 mặt: số vụ, số người chết, số người bị thương), tình trạng ùn tắc giao thông tiếp tục được kiềm chế và từng bước cải thiện79

1.7. Xây dựng thành phố thông minh

Thành phố là một trong các địa phương đầu tiên của cả nước nghiên cứu, triển khai xây dựng thành phố trở thành đô thị thông minh và đã đạt được một số kết quả giai đoạn 1, gồm: Xây dựng Kho dữ liệu dùng chung và phát triển Hệ sinh thái dữ liệu mở cho Thành phố Hồ Chí Minh; xây dựng Trung tâm điều hành đô thị thông minh; thành lập Trung tâm mô phỏng và dự báo kinh tế - xã hội; phê duyệt Đề án thành lập Công ty Cổ phần vận hành Trung tâm An toàn thông tin thành phố; tổ chức triển khai thí điểm Đề án tại Quận 1 và Quận 12; ban hành hướng dẫn mô hình triển khai đô thị thông minh cho các sở, ban, ngành quận, huyện làm cơ sở để các đơn vị xây dựng kế hoạch triển khai. 

Một số tiện ích đã được cung cấp cho người dân thông qua cổng thông tin hoặc ứng dụng trên điện thoại di động80.

2. Hạn chế, yếu kém 

Cơ sở pháp lý trong lĩnh vực quy hoạch đô thị và phát triển hạ tầng đô thị còn chồng chéo, nhiều bất cập, chưa đồng bộ, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của người dân. Công tác quản lý quy hoạch còn khó khăn, nguồn cơ sở dữ liệu phục vụ công tác lập quy hoạch chưa đầy đủ, thống nhất. Hệ thống kết cấu hạ tầng nói chung và giao thông nói riêng, mặc dù có cải thiện nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố. Sự kết nối giữa hệ thống giao thông đô thị Thành phố Hồ Chí Minh với hệ thống giao thông các vùng lân cận trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam còn gặp nhiều khó khăn81.

Các dự án phát triển hạ tầng đô thị gặp nhiều khó khăn, cơ chế huy động nguồn lực thực hiện dự án theo hình thức hợp tác công tư (PPP) còn nhiều vướng mắc. Việc thực hiện các dự án chỉnh trang đô thị bằng phương thức xã hội hóa chưa tạo được sự quan tâm, thu hút nhà đầu tư do thiếu tính khả thi.

Thị trường bất động sản phát triển chưa bền vững, chưa thể hiện rõ vai trò định hướng, dẫn dắt của Nhà nước. Mặc dù đạt chỉ tiêu bình quân về nhà ở cho người dân thành phố, nhưng phân khúc nhà ở giá rẻ, nhà ở xã hội chưa đáp ứng nhu cầu. Công tác quản lý trật tự xây dựng vẫn còn diễn biến phức tạp.

Việc cung cấp nước sạch phục vụ cho người dân cơ bản đảm bảo, tuy nhiên một bộ phận người dân sử dụng nước sạch còn hạn chế, tình trạng sử dụng nước ngầm trực tiếp cho sinh hoạt còn phổ biến ở các huyện ngoại thành. Công tác đầu tư giảm thất thoát nước được thực hiện tốt, tuy nhiên các giải pháp triển khai nhằm đảm bảo ổn định nguồn nước thô và nước sạch chưa bền vững trong tương lai; công tác đầu tư phát triển mảng xanh công viên chưa được quan tâm đúng mức, nhất là tại các dự án chung cư đô thị.

Các dự án thuộc chương trình giảm ngập nước triển khai thực hiện còn chậm; khả năng đáp ứng của hệ thống thoát nước hiện hữu còn hạn chế, đặc biệt là trong điều kiện ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. 

Tình hình tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông vẫn diễn biến phức tạp và chưa được kéo giảm bền vững, số người chết và bị thương do tai nạn giao thông vẫn còn cao. Số lượng phương tiện tiếp tục tăng cao trong khi chưa có các giải pháp hạn chế phương tiện giao thông cá nhân. Công tác đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông vẫn còn chậm so với quy hoạch được duyệt, mật độ đường giao thông bình quân trên diện tích đất toàn thành phố và tỷ lệ đất giao thông trên đất xây dựng đô thị còn thấp. Vận tải hành khách công cộng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu82; ý thức về an toàn giao thông của người tham gia giao thông còn hạn chế. Việc lập lại trật tự lòng đường, vỉa hè chưa có giải pháp căn cơ.

IV. QUỐC PHÒNG - AN NINH VÀ TRẬT TỰ AN TOÀN XÃ HỘI

1. Kết quả 

Luôn giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, quốc phòng - an ninh không ngừng được củng cố, chủ động phòng ngừa, triệt phá mọi âm mưu, hành động phá hoại gây mất ổn định chính trị, tạo điều kiện thu hút đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội thành phố.

Luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường, củng cố các mặt công tác quốc phòng - an ninh, phương án, kế hoạch đấu tranh, phòng ngừa, ngăn chặn các âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, không để bị động, bất ngờ, đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn thành phố. Nhận thức của cấp ủy, lãnh đạo các ngành, cơ quan, đơn vị và cán bộ, đảng viên về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội đã được nâng lên. 

Lực lượng vũ trang thành phố cùng hệ thống chính trị đã phối hợp thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, kết luận, chỉ thị của Đảng, Nhà nước về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trên các lĩnh vực an ninh nội bộ, văn hóa - tư tưởng, an ninh kinh tế, an ninh thông tin, an ninh tôn giáo, dân tộc, an ninh nông thôn - đô thị được quan tâm lãnh đạo, đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị trong đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả âm mưu “diễn biến hòa bình” và tình hình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Công tác tôn giáo có nhiều chuyển biến mới.

Công tác quốc phòng - an ninh đạt được kết quả quan trọng, đã lãnh đạo, chỉ đạo các lực lượng vũ trang thành phố thực hiện tinh thần “an ninh chủ động” khá rõ nét, huy động cả hệ thống chính trị thành phố cùng phối hợp tham gia giải quyết các vấn đề phức tạp về an ninh trật tự, kịp thời xử lý các hoạt động tụ tập đông người, biểu tình, gây rối an ninh trật tự, đập tan âm mưu “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố” trên địa bàn thành phố, ngăn chặn có hiệu quả việc hình thành, 

công khai hóa các tổ chức chính trị đối lập; chủ động phát hiện, đấu tranh, xử lý các hoạt động chống đối trên internet, mạng xã hội, đảm bảo tuyệt đối an toàn các sự kiện chính trị, các dịp lễ hội quan trọng.

Thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân ngày càng được nâng cao, đã phát huy được sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong công tác quốc phòng - an ninh, phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc được phát triển. Thành phố đã hoàn thành quy hoạch thế trận quân sự trong khu vực phòng thủ các cấp, từng bước xây dựng các công trình phòng thủ, chú trọng đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, xây dựng lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân bản lĩnh chính trị vững vàng, khả năng sẵn sàng chiến đấu cao.

Công tác quân sự - quốc phòng địa phương có nhiều tiến bộ trong giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh, huấn luyện, tăng cường khả năng phòng thủ; Ban Chỉ đạo khu vực phòng thủ các cấp thường xuyên được củng cố, kiện toàn, tổ chức vận hành đúng cơ chế lãnh đạo, chỉ huy và hoạt động của khu vực phòng thủ trong các trạng thái quốc phòng. Tổ chức tốt diễn tập khu vực phòng thủ, phòng thủ dân sự kết hợp với diễn tập phòng, chống biểu tình, bạo loạn, chống khủng bố, đủ sức ngăn chặn và kịp thời đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Phối hợp, chỉ đạo xây dựng lực lượng quân sự địa phương vững mạnh toàn diện, lực lượng thường trực cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Hằng năm thực hiện có hiệu quả công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ, đủ số lượng và chất lượng theo quy định của pháp luật và quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Lực lượng dự bị động viên được xây dựng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, được quản lý chặt chẽ; huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu.

Thành phố tập trung lãnh đạo hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm; kiềm chế và kéo giảm phạm pháp hình sự; kịp thời triệt phá nhiều đường dây liên tỉnh và xuyên quốc gia vận chuyển, mua bán, tàng trữ, sản xuất trái phép chất ma túy ở quy mô lớn. Quan tâm đẩy nhanh tiến độ thực hiện Đề án nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ trên địa bàn thành phố ngang tầm 

với các nước trong khu vực; xây dựng Trung tâm cảnh báo cháy sớm, kết nối với các cơ sở nguy hiểm về cháy, nổ và liên thông với hệ thống trung tâm thông tin chỉ huy của Bộ Công an, góp phần đưa phương tiện chữa cháy kịp thời, kéo giảm thiệt hại về người và tài sản do cháy gây ra.

2. Hạn chế, yếu kém  

Công tác nắm, tổng hợp, phân tích, đánh giá và dự báo tình hình vẫn còn có nơi, có lúc chưa sát, có trường hợp bị động. Có lúc chưa nhạy bén, kịp thời trong công tác đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc, vu khống của các thế lực thù địch, số đối tượng chống đối chính trị. Vai trò điều hành lãnh đạo của một số lãnh đạo cơ quan chủ quản báo chí xử lý thiếu kiên quyết, chế tài chưa đủ sức răn đe. Việc bảo vệ bí mật Nhà nước ở một số cơ quan, ban, ngành vẫn còn sơ hở, còn xảy ra tình trạng lộ lọt bí mật Nhà nước.

Hoạt động của tội phạm hình sự, ma túy tuy được kéo giảm về số vụ xảy ra nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ phức tạp. Một số mô hình phòng, chống tội phạm chưa hiệu quả. Tình hình cháy trên địa bàn thành phố được kéo giảm nhưng vẫn diễn biến phức tạp, khó lường.

V. HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI VÀ HỢP TÁC QUỐC TẾ 

1. Kết quả 

Công tác đối ngoại của thành phố được triển khai sâu rộng, hiệu quả trên các kênh Đối ngoại của Đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân; đồng bộ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, thông tin tuyên truyền đối ngoại và công tác về người Việt Nam ở nước ngoài. 

Các hoạt động đối ngoại của thành phố đã góp phần thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước; đóng góp tích cực vào việc thu hút và tranh thủ các nguồn lực bên ngoài phục vụ cho sự phát triển toàn diện, hội nhập khu vực và quốc tế của thành phố83; tăng cường quảng bá hình ảnh Việt Nam và thành phố84; tạo được niềm tin cho cộng đồng quốc tế về môi trường sống, đầu tư, kinh doanh của thành phố; từ đó nâng cao vị thế và uy tín của thành phố trên trường quốc tế, tạo tiền đề quan trọng để thành phố tiếp tục mở rộng và cụ thể hóa các nội dung hợp tác trong tương lai. Thành phố đã chủ động tìm hiểu và xác lập quan hệ hợp tác quốc tế với các địa phương thuộc các nước là đối tác chiến lược của Việt Nam nhằm giải quyết các yêu cầu cấp bách của thành phố85. Triển khai đề án xây dựng Trung tâm hợp tác kinh tế, du lịch và văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh ở Thành phố Saint-Petersburg (Liên bang Nga). Cùng với quốc phòng và an ninh, đối ngoại đã thực sự trở thành một trong những trụ cột đóng góp tích cực vào sự ổn định và phát triển của thành phố.

2. Hạn chế, yếu kém 

Tính chủ động và hiệu quả của hợp tác quốc tế trong một số lĩnh vực với các đối tác còn chưa cao. Nhiều thỏa thuận hợp tác quốc tế giữa thành phố và các địa phương nước ngoài mới chỉ dừng ở khung hợp tác. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực thực hiện nhiệm vụ công tác đối ngoại của thành phố vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay.

B. XÂY DỰNG ĐẢNG, CHÍNH QUYỀN VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ 

I. TÌNH HÌNH NHÂN DÂN, CÁN BỘ VÀ ĐẢNG VIÊN 

Nhân dân, cán bộ, đảng viên tin tưởng vào chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; phấn khởi với sự ổn định và những thành tựu của đất nước và thành phố, bày tỏ sự đồng tình và hưởng ứng với chủ trương của Thành ủy về việc thực hiện các giải pháp đột phá trong cải cách hành chính, cải thiện môi trường, chỉnh trang đô thị, chính sách dân sinh,... chất lượng cuộc sống của người dân ngày càng được cải thiện. Nhân dân quan tâm, theo dõi sự đổi mới trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Thành ủy, nhất là trong việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII); rất ủng hộ và đánh giá cao việc tổ chức thực hiện quyết liệt và có hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 54/2017/QH14 ngày 24 tháng 11 năm 2017 của Quốc hội về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo được không khí đồng lòng, tích cực hưởng ứng, khuyến khích sự sáng tạo, chủ động trong cách làm, giải pháp, sáng kiến thực hiện của cán bộ, công chức, viên chức. Nhân dân kỳ vọng vào hoạt động giám sát, chất vấn của hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp, mong muốn các kiến nghị hợp pháp, chính đáng của người dân được quan tâm giải quyết thỏa đáng. 

Mặt khác, Nhân dân còn lo lắng về tình hình giá cả; tình hình dịch bệnh Covid-19 ảnh hưởng đến việc làm, thu nhập thiếu ổn định; vệ sinh an toàn thực phẩm chưa đảm bảo, tệ nạn xã hội và tội phạm ngày càng manh động; tình trạng suy thoái về đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên chưa được ngăn chặn triệt để; hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở một số lĩnh vực chưa nghiêm; công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí có lúc, có nơi còn hạn chế; những khuyết điểm trong thực hiện các dự án chỉnh trang đô thị nhất là Khu đô thị mới Thủ Thiêm kéo dài; một số bất cập trong chính sách bồi thường, thu hồi đất, tái định cư khi thực hiện các công trình, dự án dẫn đến tình trạng khiếu kiện giải quyết còn khó khăn; những diễn biến phức tạp ở Biển Đông; các thế lực thù địch gia tăng các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, thông tin xuyên tạc, lợi dụng những vụ việc nhạy cảm, phức tạp để kích động, lôi kéo người dân,... đã tác động và ảnh hưởng không nhỏ đến niềm tin của Nhân dân, cán bộ, đảng viên.

II. XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG VÀ ĐẠO ĐỨC

1. Kết quả

Giáo dục chính trị tư tưởng, đấu tranh, phòng, chống những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ được tăng cường và đạt hiệu quả khá tích cực, góp phần ổn định tư tưởng chính trị, tạo niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, tạo sự thống nhất nội bộ và đồng thuận xã hội.

Tập trung chỉ đạo đổi mới và tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nâng cao nhận thức, tăng “sức đề kháng” của cán bộ, đảng viên; chú trọng nâng cao chất lượng việc tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, góp phần tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và sự đồng thuận trong xã hội, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng. Bước đầu đổi mới về phương thức học tập nghị quyết, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục lý luận chính trị.

Quan tâm công tác dự báo tình hình, nắm bắt diễn biến tư tưởng, tâm trạng và nghiên cứu dư luận xã hội; tổ chức nhiều hoạt động gặp gỡ, đối thoại, khảo sát, giám sát, tăng cường đi cơ sở của Thường trực Thành ủy và lãnh đạo các cấp, lắng nghe ý kiến, hiến kế của Nhân dân, đại biểu các giới, các ngành. Việc đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng được quan tâm và đạt hiệu quả bước đầu86. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động của các cơ quan báo chí, xuất bản được quan tâm, đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực và tích cực phát hiện, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Việc lãnh đạo, chỉ đạo chủ động triển khai thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, Quy định số 55-QĐ/TW, Quy định số 08-QĐi/TW của Bộ Chính trị về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên được triển khai hiệu quả. Chỉ đạo thực hiện nhiều giải pháp nâng cao nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên, quan tâm phát hiện, biểu dương, lan tỏa các điển hình tiên tiến thực hiện tốt Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị87. Việc thực hiện trách nhiệm nêu gương và các chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên được triển khai tương đối đồng bộ ở các cấp. Lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu các cấp đã quán triệt và gương mẫu, tự giác thực hiện tốt nội dung nêu gương, đề cao tinh thần trách nhiệm, tận tụy với công việc, nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị; chú trọng xem xét, tháo gỡ các vướng mắc, giải quyết kịp thời các khó khăn, kiến nghị của Nhân dân88. Kịp thời xử lý kỷ luật nghiêm những đảng viên vi phạm, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã được kết luận.

Chỉ đạo các cấp ủy gương mẫu thực hiện việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình hàng năm; coi trọng việc sửa chữa, khắc phục hạn chế, khuyết điểm sau kiểm điểm tự phê bình và phê bình. Tăng cường thực hiện kiểm tra, giám sát; chỉ đạo chấn chỉnh, khắc phục những hạn chế, thiếu sót qua kiểm điểm tự phê bình, phê bình, góp phần đấu tranh ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu các cấp.

2. Hạn chế, yếu kém

Công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Đề án số 02-ĐA/TU ngày 24 tháng 3 năm 2014 của Ban Thường vụ Thành ủy về phòng, chống những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng bộ thành phố gắn với công tác phản bác, đấu tranh với các quan điểm sai trái trên Internet, mạng xã hội còn chậm, thiếu đồng bộ và chưa đạt yêu cầu; chậm triển khai thực hiện quyết định của Trung ương về tiếp tục phát huy vai trò của Nhân dân trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Công tác tư tưởng có lúc còn thiếu sắc bén, tính thuyết phục chưa cao, việc giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên có mặt còn hình thức; định hướng dư luận xã hội còn chậm. Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận vẫn chưa đáp ứng yêu cầu. Công tác quản lý, chỉ đạo báo chí có lúc chưa kịp thời, chưa đồng bộ.

Công tác kiểm điểm tự phê bình và phê bình ở một số nơi còn nể nang, né tránh, ngại va chạm, chậm phát hiện, đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện, dấu hiệu vi phạm của cán bộ, đảng viên; việc khắc phục hạn chế, khuyết điểm còn chậm. Chưa phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân trong giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.

Còn một bộ phận cán bộ, đảng viên nói không đi đôi với làm, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, cá nhân chủ nghĩa, bè phái, gây mất đoàn kết nội bộ, lợi ích nhóm bị xử lý theo pháp luật làm ảnh hưởng đến Đảng; làm suy giảm niềm tin của Nhân dân vào Đảng, hệ thống chính trị thành phố. Thiếu biện pháp cụ thể để triển khai thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng về đạo đức.

III. XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ TỔ CHỨC, CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

1. Kết quả

Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng được củng cố; công tác cán bộ ngày càng được quan tâm; phương thức lãnh đạo của các cấp ủy tiếp tục được đổi mới; nguyên tắc tập trung dân chủ được giữ vững.

Thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy89 của hệ thống chính trị đảm bảo quan điểm chỉ đạo của Trung ương và phù hợp thực tiễn của thành phố90. Tập trung chỉ đạo rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy định về chức năng, nhiệm vụ các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị thành phố đảm bảo không trùng lắp, chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ. Xây dựng quy chế phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động; triển khai Danh mục vị trí việc làm và bản mô tả vị trí việc làm, giao biên chế cơ quan khối Đảng, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội theo hướng giảm dần. Việc thực hiện tinh giản biên chế theo Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị đảm bảo lộ trình theo quy định91.

Tập trung xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thông qua thực hiện 03 Chương trình đào tạo của thành phố92; quan tâm thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ93. Đẩy mạnh thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp theo Chương trình hành động94 của Thành ủy thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; rà soát, điều chỉnh, bổ sung, ban hành mới các quy định, quy chế về công tác cán bộ95; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với tăng cường kiểm tra, giám sát công tác cán bộ96; kiên quyết điều chuyển, thay thế cán bộ lãnh đạo, quản lý uy tín giảm sút, năng lực hạn chế, kết quả công tác không đáp ứng yêu cầu; thực hiện đồng bộ các nội dung công tác cán bộ, chú trọng và tăng cường tỷ lệ cán bộ lãnh đạo, cấp ủy là nữ đạt kết quả khá tốt; thực hiện công tác quy hoạch cán bộ gắn liền việc vận hành các bước tiếp theo sau quy hoạch. Chấn chỉnh, khắc phục những hạn chế, sai sót qua kiểm tra, rà soát về công tác cán bộ theo kết luận của Ban Bí thư97. Thực hiện tốt chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ thành phố. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được thực hiện chặt chẽ, nền nếp.

Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy thực hiện nghiêm Điều lệ Đảng, quy định của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ của các loại hình tổ chức cơ sở đảng để phát huy tốt vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị ở cơ sở; rà soát, sắp xếp lại các tổ chức đảng trực thuộc Thành ủy. Khảo sát, đánh giá tình hình hoạt động của các loại hình tổ chức đảng, đẩy mạnh công tác xây dựng tổ chức đảng, đoàn thể trong các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước và đơn vị sự nghiệp ngoài công lập98

Công tác phát triển đảng viên được cấp ủy các cấp quan tâm; số lượng đảng viên được kết nạp hàng năm đều tăng, bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện, tỷ lệ đảng viên là đoàn viên Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đạt 53,12%.

Cụ thể hóa và định lượng tiêu chí đánh giá, xếp loại đối với tổ chức đảng, đảng viên; tập thể, cá nhân cán bộ lãnh đạo, quản lý theo quy định99; xác định cụ thể các nội dung của khung tiêu chí đánh giá, khung tiêu chuẩn các mức xếp loại100; thực hiện quy trình đánh giá, xếp loại chặt chẽ, công khai, dân chủ, khách quan; từng bước khắc phục tính hình thức và bệnh thành tích trong đánh giá chất lượng của các tổ chức cơ sở đảng và đảng viên101

Hầu hết đảng viên nhận thức và thực hiện đúng vai trò, vị trí, nhiệm vụ của người đảng viên, gương mẫu và tuyên truyền, vận động cán bộ, công nhân, viên chức, người lao động và Nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có ý thức thực hành tiết kiệm, đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác; chấp hành sự phân công, điều động của tổ chức; chấp hành tốt nguyên tắc trong tổ chức và sinh hoạt Đảng, thực hiện khá tốt tự phê bình và phê bình, tham gia sinh hoạt đảng tích cực; có mối liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, thực hiện tốt nghĩa vụ công dân nơi cư trú102. Hầu hết các đồng chí Thành ủy viên, đảng viên là lãnh đạo các tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương thực hiện tốt vai trò của người đứng đầu, sâu sát thực tế, gần gũi để thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân, trực tiếp gặp gỡ, đối thoại, tiếp công dân, tập trung chỉ đạo giải quyết dứt điểm nhiều vụ việc khiếu nại, tố cáo tồn đọng kéo dài, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và hệ thống chính trị thành phố.

2. Hạn chế, yếu kém

Công tác tuyển dụng và bố trí cán bộ của một số địa phương, đơn vị còn sai sót, vi phạm. Hiệu quả của việc đánh giá cán bộ chưa cao; tỷ lệ cấp ủy viên trẻ tuổi, người dân tộc có nơi chưa đạt yêu cầu đề ra.

Nhiệm vụ xây dựng tổ chức cơ sở đảng, quản lý đảng viên, sinh hoạt đảng trong doanh nghiệp ngoài khu vực Nhà nước còn gặp khó khăn. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số cấp ủy, tổ chức đảng còn thấp, nhất là ở khối hành chính sự nghiệp, còn để xảy ra tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, khiếu kiện đông người, xuất hiện những điểm nóng; chất lượng sinh hoạt cấp ủy, đảng bộ, chi bộ chuyển biến chưa mạnh.

Công tác phát triển đảng viên ở địa bàn dân cư, trong giảng viên, sinh viên, phóng viên, biên tập viên, nông dân, công nhân trực tiếp sản xuất còn hạn chế. Chưa nghiên cứu, xây dựng mô hình tổ chức đảng phù hợp tại các khu chung cư, cao ốc trên địa bàn thành phố. Số đảng viên thờ ơ, không thiết tha gắn bó với tổ chức đảng, bỏ sinh hoạt Đảng, xin ra khỏi Đảng có xu hướng tăng103

IV. CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT, KỶ LUẬT ĐẢNG

1. Kết quả

Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng được coi trọng; chất lượng, hiệu quả được nâng lên; qua chủ động kiểm tra, giám sát đã phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh cán bộ sai phạm, góp phần phục vụ tốt việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng.

Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng đạt kết quả tương đối toàn diện, có nhiều nét đổi mới, chất lượng, hiệu quả được nâng lên. Thành ủy và cấp ủy các cấp chủ động quán triệt, triển khai các văn bản mới, quan trọng của Trung ương. Thành ủy ban hành Chương trình hành động “Nâng cao chất lượng, hiệu quả kiểm tra, giám sát của cấp ủy, ủy ban kiểm tra cấp ủy các cấp giai đoạn 2016 - 2020”, xác định cấp ủy và đồng chí bí thư cấp ủy trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện công tác kiểm tra, giám sát.

Các cấp ủy thuộc Đảng bộ thành phố bước đầu lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát của hệ thống chính trị đảm bảo hợp lý, khoa học, tránh chồng chéo, trùng lắp. Triển khai thực hiện Quy định số 1374-QĐ/TU ngày 01 tháng 12 năm 2017 của Ban Thường vụ Thành ủy về quy trình giải quyết thông tin phản ánh liên quan các tập thể, cá nhân suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đã có tác dụng thiết thực; việc giải quyết thông tin phản ánh của từng cấp đã được phát huy, tạo được sức lan tỏa cho toàn hệ thống chính trị thành phố, nhiều vụ việc do báo chí, Nhân dân phản ánh đã được xử lý; đồng thời, xem xét trách nhiệm của tập thể, cá nhân có hành vi vi phạm, góp phần tích cực vào thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII.

Ủy ban kiểm tra cấp ủy các cấp chủ động trong tham mưu cấp ủy cùng cấp và thực hiện toàn diện nhiệm vụ theo quy định của Điều lệ Đảng. Công tác kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm được đẩy mạnh thực hiện, kể cả kiểm tra cách cấp104, tập trung một số lĩnh vực mới, lĩnh vực khó, dễ phát sinh tiêu cực, sai phạm, có nhiều dư luận quan tâm105; đã tham mưu cấp ủy, tổ chức đảng có thẩm quyền hoặc xem xét, xử lý nhiều tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, nhất là cấp ủy viên cùng cấp và cán bộ diện cấp ủy quản lý106; xem xét, xử lý một số đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, với các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, góp phần siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và trong điều hành của chính quyền các cấp. Từ kết quả kiểm tra, giám sát đã tổ chức các hội nghị giao ban chuyên đề107 để giới thiệu những kinh nghiệm, cách làm có hiệu quả; đồng thời, cung cấp thông tin để cảnh báo, phòng ngừa, hạn chế các khuyết điểm, vi phạm trên các lĩnh vực.

Đẩy mạnh việc phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng giữa ủy ban kiểm tra cấp ủy với các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị; chỉ đạo xem xét, xử lý đồng bộ về Đảng và chính quyền đối với các trường hợp sai phạm. Huy động cả hệ thống chính trị tham gia công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; phát huy vai trò người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong kiểm tra, giám sát việc thực thi công vụ của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức.

Công tác thông tin tuyên truyền kết quả thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng của toàn Đảng bộ thành phố được tăng cường; đã công khai kết quả các hội nghị Ủy ban Kiểm tra Thành ủy, nhất là các vụ việc xem xét, thi hành kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên, có tác dụng tích cực trong việc giáo dục cán bộ, đảng viên, được Nhân dân đồng tình, ủng hộ. Quan tâm biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân có nhiều đóng góp cho công tác kiểm tra, giám sát; phát hiện, giới thiệu các nhân tố tích cực, mô hình tốt, cách làm hiệu quả để nhân rộng. 

2. Hạn chế, yếu kém

Công tác kiểm tra, giám sát ở một số cấp ủy chưa thường xuyên, một số nơi vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu, nhiệm vụ chính trị trong tình hình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, thiếu trọng tâm, trọng điểm. Công tác kiểm tra, giám sát của một số cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy chưa đi vào nền nếp; phát hiện và xử lý vi phạm vẫn là khâu yếu; việc theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát tình hình khắc phục thiếu sót, khuyết điểm, vi phạm đã được chỉ ra qua kiểm tra, thanh tra, giám sát của một số cấp ủy, chính quyền địa phương, đơn vị chưa được quan tâm đúng mức. Việc thi hành kỷ luật đảng, chính quyền ở một số nơi còn hiện tượng nể nang, né tránh; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với cấp ủy viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý có lúc còn chậm.

V. XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN

1. Kết quả

Tiếp tục xây dựng tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; cải cách hành chính được triển khai đồng bộ, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành và giải quyết thủ tục hành chính.

Công tác triển khai Kết luận số 21-KL/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 54/2017/QH14 của Quốc hội được đặc biệt quan tâm, chỉ đạo thường xuyên, kịp thời. Hiệu quả công tác ủy quyền đã rút ngắn thời gian xử lý giải quyết hồ sơ, tiết kiệm chi phí, thời gian cho cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp. Việc triển khai thực hiện chi thu nhập tăng thêm góp phần động viên, khuyến khích đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nâng cao năng suất phục vụ và hiệu quả công việc. Việc điều chỉnh mức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp đã khuyến khích các cơ sở sản xuất tiết kiệm hơn việc sử dụng nước sạch, tái sử dụng nước nhằm giảm lượng nước thải ra môi trường; tiến độ thực hiện các dự án nhóm A và các dự án có chuyển mục đích sử dụng đất lúa trên 10 ha được đẩy nhanh hơn khá nhiều. Đề án sữa học đường được triển khai góp phần cải thiện tình trạng dinh dưỡng, nâng cao tầm vóc trẻ em mẫu giáo và học sinh tiểu học. Xây dựng Đề án điều chỉnh tỷ lệ điều tiết ngân sách cho thành phố giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn 2026 - 2030 để tăng thu ngân sách Trung ương và tạo tiền đề để thành phố phát triển nhanh, bền vững.

Thành phố tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021 theo quy định108. Thực hiện các quy chế phối hợp giữa các cơ quan ngày càng nâng cao hiệu quả. Sắp xếp tổ chức bộ máy hội đồng nhân dân các cấp được thực hiện đảm bảo đúng theo quy định. Hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân thành phố được đổi mới, có chất lượng và hiệu quả hơn. Vai trò trách nhiệm, quyền hạn của đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp được nâng cao. 

Tiếp tục xây dựng tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, thực hiện thí điểm một số mô hình tổ chức phù hợp với thực tiễn và đặc thù của thành phố109. Chủ động xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tinh thần trách nhiệm và tận tụy phục vụ Nhân dân. 

Công tác cải cách hành chính được đẩy mạnh triển khai đồng bộ110; cải cách chế độ công vụ, công chức, đổi mới phương thức làm việc, giải quyết thủ tục hành chính trên cơ sở ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin, xây dựng chính quyền điện tử, nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền thành phố111; nâng cao vai trò và trách nhiệm của người đứng đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành. Sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính, đạt trên 80%, đáp ứng chỉ tiêu của Chính phủ112

Công tác tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo của thành phố có nhiều chuyển biến tích cực, đã tập trung chỉ đạo giải quyết tình trạng khiếu nại đông người phức tạp ở một số dự án trọng điểm, kịp thời kiến nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh, sửa đổi các chính sách cho phù hợp, đảm bảo tính khả thi.

Các cơ quan tư pháp thành phố thường xuyên được củng cố, kiện toàn. Các cơ quan tố tụng thành phố phối hợp chặt chẽ trong công tác điều tra, truy tố, xét xử; đảm bảo xử lý đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật; nguyên tắc tranh tụng được bảo đảm; chất lượng tranh tụng ngày càng được nâng cao. 

Công tác xây dựng thể chế trong xây dựng chính quyền được tăng cường, tạo hành lang pháp lý cho việc kiện toàn về tổ chức bộ máy, biên chế, đáp ứng yêu cầu công tác quản lý nhà nước và thực tiễn phát triển của thành phố. Hoạt động bổ trợ tư pháp ngày càng được chú trọng, chủ trương xã hội hóa hoạt động bổ trợ tư pháp được đẩy mạnh. 

2. Hạn chế, yếu kém

Việc triển khai Nghị quyết số 54/2017/QH14 của Quốc hội có nội dung còn chậm so với kế hoạch dự kiến. Một số cơ chế, chính sách đặc thù về tài chính, ngân sách như bổ sung nguồn thu từ cổ phần hóa, thưởng vượt thu, bổ sung có mục tiêu từ ngân sách Trung ương, tiền sử dụng đất do bán tài sản của các cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn thực tế chưa có điều kiện thực hiện113 nên chưa có nguồn vốn đầu tư đồng bộ các công trình hạ tầng trên địa bàn thành phố, chưa tạo thêm nguồn lực tài chính công mới để thành phố phát triển nhanh, bền vững, nâng cao chất lượng sống của Nhân dân.

Việc thực hiện tinh giản biên chế tuy có cố gắng nhưng chưa đạt theo yêu cầu; không thành lập Trung tâm hành chính công một cửa cấp thành phố; chưa thực hiện việc thí điểm cơ chế thi tuyển rộng rãi chức danh lãnh đạo cấp phó sở, ngành, chức danh trưởng phòng thuộc quận, huyện và chưa đề xuất thực hiện thí điểm cử tri trực tiếp bầu một số chức danh ở phường - xã, thị trấn, quận - huyện.

Chất lượng và hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức chưa tương xứng với yêu cầu đề ra, nhất là đối với đội ngũ viên chức. 

Vẫn còn một số cấp ủy, thủ trưởng cơ quan, đơn vị chưa thể hiện sự sâu sát, chưa kịp thời phát hiện và xử lý triệt để các hạn chế, thiếu sót, vi phạm của công chức, viên chức. 

Trong cải cách tư pháp, việc hoàn thiện tổ chức bộ máy còn gặp khó khăn, chính sách hỗ trợ đảm bảo cơ sở vật chất cho các cơ quan tư pháp chưa được Trung ương ban hành mới; công tác giám định tư pháp trong một số vụ án, vụ việc còn kéo dài. Quản lý nhà nước đối với các hoạt động bổ trợ tư pháp còn gặp khó khăn do số lượng cá nhân, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp trên địa bàn thành phố hiện nay rất lớn. 

VI. CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ 

1. Kết quả

Công tác tuyên truyền và thực hiện các giải pháp về phòng, chống tham nhũng, lãng phí tại các cơ quan, đơn vị được thực hiện thường xuyên114, trong đó, việc ban hành và thực hiện Quy định số 1374-QĐ/TU, đã tạo chuyển biến tích cực, phát huy vai trò người đứng đầu trong việc triển khai các giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, góp phần nâng cao niềm tin của Nhân dân đối với Đảng bộ và chính quyền thành phố115.

Việc phát hiện, xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng, kinh tế thông qua công tác thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục, quy định, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí và việc thu hồi tài sản cho Nhà nước bị thất thoát, chiếm đoạt.

Công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị của thành phố, đã nâng cao hiệu quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí trong các ngành, lĩnh vực quan trọng116.

2. Hạn chế, yếu kém

Việc phát hiện tham nhũng còn ít so với thực tế, đặc biệt là tự phát hiện tham nhũng trong các đơn vị; việc xử lý còn kéo dài, thu hồi tài sản tuy có tiến bộ nhưng tỷ lệ còn thấp; công tác kiểm tra, giám sát nội bộ của một số cấp ủy chưa hiệu quả.

Tình trạng lãng phí trong việc quản lý, sử dụng tài sản, nhà đất công; quản lý đầu tư xây dựng vẫn diễn ra ở nhiều doanh nghiệp nhà nước.

Một số cấp ủy chưa quan tâm đúng mức đến việc thực hiện các giải pháp phòng ngừa tham nhũng, nhất là việc chuyển đổi vị trí công tác; công tác kiểm tra, giám sát việc kê khai, công khai, minh bạch tài sản, thu nhập chưa phát huy hiệu quả trong ngăn ngừa, phát hiện tham nhũng; chưa thực hiện có hiệu quả cơ chế giám sát, xử lý các trường hợp kê khai không trung thực.

VII. CÔNG TÁC DÂN VẬN, XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM THÀNH PHỐ, CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI THÀNH PHỐ 

1. Kết quả

Công tác dân vận của Đảng có nhiều chuyển biến tích cực; hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội không ngừng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động phù hợp, hiệu quả; dân chủ được phát huy và nâng cao hơn tại cơ sở; tiếp tục củng cố khối đại đoàn kết toàn dân một cách vững chắc, góp phần chung tay thực hiện nhiệm vụ chính trị thành phố.

Thành ủy tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân vận có trọng tâm, nội dung bám sát Chương trình hành động số 10-CTrHĐ/TU, có từng chuyên đề cụ thể; đồng thời, lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố và các tổ chức thành viên 

thực hiện tốt công tác đối ngoại nhân dân, vận động người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp xây dựng quê hương,... đã mang lại hiệu quả thiết thực. 

Công tác dân vận của chính quyền có những chuyển biến rõ rệt, nhận thức về vai trò của công tác dân vận trong các cơ quan nhà nước các cấp, nhất là của người đứng đầu cơ quan, đơn vị được nâng cao. 

Việc xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở được các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo gắn với thực hiện các nghị quyết, chương trình hành động của Thành ủy; đặc biệt là Nghị quyết 54/2017/QH14 của Quốc hội. Việc thực hiện dân chủ ở xã - phường, thị trấn phát huy khá tốt vai trò của Nhân dân trong tham gia giám sát các nguồn quỹ trong Nhân dân, đầu tư cộng đồng, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; việc thực hiện quy chế dân chủ trong các cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập có nền nếp; thực hiện dân chủ trong doanh nghiệp có chuyển biến hơn.

Phong trào thi đua “Dân vận khéo” gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh dần đi vào chiều sâu, với nội dung, phương thức thực hiện ngày càng thực chất, số lượng điển hình được tuyên dương ở các cấp không ngừng tăng lên; các mô hình, điển hình “Dân vận khéo” được lan rộng và có sức lan tỏa.

Các phong trào thi đua yêu nước, thi đua lao động sáng tạo, cải cách hành chính được đẩy mạnh; các đợt thi đua cao điểm được sự đồng tình, hưởng ứng và thu hút đông đảo Nhân dân tham gia; giải thưởng sáng tạo của thành phố lần đầu tổ chức năm 2019 và Cuộc vận động “Người dân Thành phố Hồ Chí Minh không xả rác ra đường và kênh rạch, vì thành phố sạch và giảm ngập nước” bước đầu đã khơi dậy sức sáng tạo, nâng cao nhận thức của người dân về ý thức giữ gìn vệ sinh, bảo vệ môi trường. 

Tập trung lãnh đạo thực hiện Quyết định số 217-QĐ/TW, Quyết định số 218-QĐ/TW của Bộ Chính trị, Ban Thường vụ Thành ủy xây dựng và ban hành Quyết định 935-QĐ/TU, Quyết định 936-QĐ/TU, Quyết định 994-QĐ/TU, cấp ủy, chính quyền các cấp ngày càng quan tâm lãnh đạo, phát huy vai trò Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân trong tham gia góp ý, giám sát, phản biện các chủ trương, chính sách, hoạt động lãnh đạo, điều hành; thường xuyên tổ chức các hoạt động đối thoại, hòa giải tại cơ sở, luôn tôn trọng, lắng nghe, tiếp thu, điều chỉnh để giải quyết các bức xúc của Nhân dân.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố và các tổ chức thành viên có nhiều đổi mới về nội dung, phương thức hoạt động đa dạng trong tuyên truyền, vận động, tập hợp Nhân dân; các phong trào thi đua yêu nước, cuộc vận động được đổi mới, hướng mạnh về cơ sở, góp phần thiết thực phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân, đã huy động, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; nhiều mô hình mới, cách làm hay, sáng tạo, có hiệu quả mang tính thiết thực được nhân rộng, lan tỏa; các chương trình phối hợp hành động huy động được sự tham gia của nhiều tổ chức thành viên, phát huy hiệu quả; công tác tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, hoạt động giám sát, phản biện xã hội, tiếp xúc, đối thoại có nhiều đổi mới về nội dung, cách làm gắn với giải quyết những vấn đề Nhân dân quan tâm, bức xúc, đạt hiệu quả bước đầu; làm tốt công tác vận động, hòa giải tại cơ sở, giữ gìn mối quan hệ đoàn kết ở khu dân cư117.

Liên đoàn Lao động thành phố đã sáng tạo nhiều mô hình, mở rộng mặt trận tập hợp người lao động; xây dựng tổ chức công đoàn rộng khắp trong tất cả loại hình tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp, góp phần xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng Đảng bộ, chính quyền trong sạch, vững mạnh. Giai cấp công nhân thành phố phát triển nhanh về số lượng, nâng cao về nhận thức chính trị, tiếp tục khẳng định vai trò nòng cốt, tiên phong trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế. Thông qua các phong trào thi đua yêu nước, thi đua “Lao động giỏi, lao động sáng tạo”, đội ngũ công nhân, viên chức, người lao động từng bước nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, năng suất lao động, tích cực đẩy mạnh các chương trình chăm lo, hỗ trợ công nhân, tạo được sự gắn bó, đoàn kết cùng thực hiện nhiệm vụ, đóng góp quan trọng trong xây dựng, phát triển đất nước và thành phố118.

Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh thành phố lãnh đạo công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi thành phố tiếp tục có bước phát triển, có dấu ấn cụ thể trên từng mảng công tác; làm tốt nhiệm vụ phụ trách Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh; công tác giáo dục được đổi mới về nội dung và phương thức. Công tác phát hiện, tuyên dương và phát huy điển hình thanh niên được duy trì tốt hàng năm. Các phong trào hành động cách mạng có nhiều điểm mới, bám sát nhiệm vụ chính trị của thành phố, địa phương, đơn vị, nhiều phong trào tạo ra sức lan tỏa trong xã hội, có giá trị nhân rộng, tạo thành mô hình cho phong trào chung thanh thiếu nhi cả nước. Hoạt động chăm lo, đồng hành, cổ vũ thanh niên tích cực học tập, lao động, sáng tạo, lập nghiệp, khởi nghiệp, vui chơi, giải trí lành mạnh đạt kết quả tích cực. Tổ chức Đoàn được củng cố, nâng chất, có sức sống từ cơ sở. Đội ngũ cán bộ làm công tác thanh niên được quan tâm quy hoạch, đào tạo, luân chuyển đến bố trí sử dụng. Công tác bồi dưỡng, giới thiệu đoàn viên ưu tú sang Đảng xem xét, kết nạp được tập trung, đầu tư. Hội Liên hiệp Thanh niên, Hội Sinh viên được phát huy, đã hình thành các mô hình, cách làm phù hợp, góp phần tăng tỷ lệ tập hợp thanh niên thành phố119.

Hội Nông dân thành phố lãnh đạo phong trào nông dân tiếp tục có bước phát triển gắn với sự đổi mới mạnh mẽ của nông thôn; ngày càng khẳng định vai trò giai cấp nông dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ thành phố. Công tác tuyên truyền được đầu tư, đổi mới về nội dung, hình thức, góp phần nâng cao nhận thức và chuyển biến hành động của hội viên, nông dân. Công tác xây dựng tổ chức Hội tập trung phát huy nhân tố con người gắn với phát huy vai trò, trách nhiệm hội viên, nông dân. Các phong trào thi đua của Hội được đầu tư thực hiện, nhất là phong trào nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu; các hoạt động trợ vốn, dạy nghề, tập huấn chuyển giao công nghệ, tổ chức chợ phiên nông sản và xúc tiến thương mại được duy trì; Chương trình “Tết nghĩa tình” tiếp tục phát huy hiệu quả, góp phần hỗ trợ, chăm lo hội viên, nông dân có hoàn cảnh khó khăn120.

Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố đã thực hiện tốt chức năng đại diện chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp phụ nữ, phát huy vai trò nòng cốt trong công tác phụ nữ và bình đẳng giới; chủ động, sáng tạo, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động; đoàn kết, tập hợp, động viên các tầng lớp phụ nữ thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tổ chức nhiều phong trào thi đua, cuộc vận động thiết thực và hiệu quả, đặc biệt là phong trào “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” và hai cuộc vận động “Rèn luyện phẩm chất đạo đức: tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang”, “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch”, góp phần xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; công tác giám sát, phản biện của các cấp hội ngày càng đi vào chiều sâu, đề xuất nhiều chính sách liên quan đến phụ nữ, kịp thời bảo vệ cho phụ nữ, trẻ em, góp phần vào sự phát triển chung của thành phố121.

Hội Cựu chiến binh thành phố đã có bước phát triển toàn diện, vững chắc; hoạt động đúng chức năng nhiệm vụ. Tuyệt đại đa số hội viên cựu chiến binh giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tự lực, tự cường, giúp nhau phát triển kinh tế, cải thiện đời sống; tham gia giáo dục lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho thế hệ trẻ; đẩy mạnh thực hiện phong trào “Cựu chiến binh gương mẫu”, tích cực tham gia các cuộc vận động, đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tội phạm và các tệ nạn xã hội, góp phần xây dựng và củng cố cơ sở chính trị, xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh122.

Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật123 và 09 hội thành viên đã tổ chức nhiều hoạt động hiệu quả trong việc sáng tác và quảng bá các tác phẩm văn học nghệ thuật dân tộc, cách mạng, tiến bộ, cơ bản đáp ứng nhu cầu hưởng thụ đa dạng, phong phú ngày càng cao của các tầng lớp Nhân dân; nỗ lực sáng tạo các tác phẩm mới có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, bám sát thực tiễn sự nghiệp xây dựng, bảo vệ thành phố, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ chính trị, góp phần tích cực trong xây dựng và phát triển văn hóa, con người thành phố. 

Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố124 ngày càng phát triển về tổ chức và nguồn nhân lực, thể hiện vai trò tập hợp, phát huy các nhà khoa học, đội ngũ trí thức tham gia tích cực vào việc nghiên cứu khoa học, phản biện các chương trình, dự án lớn, góp sức vào sự nghiệp đổi mới và phát triển ở thành phố.

2. Hạn chế, yếu kém

Nhận thức về công tác dân vận trong hệ thống chính trị chưa đồng bộ; việc nắm và dự báo tình hình Nhân dân, lắng nghe và xử lý những phản ánh của cơ sở có nơi chưa kịp thời nên việc xử lý hiệu quả chưa cao. 

Việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội có mặt còn chậm, có nơi chưa nắm bắt kịp thời tâm trạng và nhu cầu chính đáng của Nhân dân. Công tác giám sát, phản biện xã hội có tập trung nhưng sự phối hợp chưa đồng bộ. Việc thu hút, huy động đoàn viên, hội viên tham gia các phong trào chưa được rộng khắp. Công tác phát triển, nâng cao chất lượng đoàn viên, hội viên, xây dựng lực lượng chính trị trong doanh nghiệp ngoài khu vực Nhà nước và đơn vị sự nghiệp ngoài công lập chưa đạt yêu cầu. 

Công tác dân vận của chính quyền ở một số sở, ngành thành phố, một số quận, huyện chưa được quan tâm đúng mức. Thiếu sự đồng bộ trong phối hợp giải quyết các thủ tục hành chính cho người dân. Công tác tiếp dân có chuyển biến nhưng vẫn còn hạn chế; thái độ phục vụ Nhân dân của một số cán bộ, công chức, viên chức chưa tận tâm; vẫn còn tình trạng cán bộ, công chức, viên chức quan liêu, tham nhũng vặt. Hoạt động hòa giải ở cơ sở còn nhiều bất cập. Tình hình khiếu kiện của Nhân dân liên quan đến một số dự án trong nửa đầu nhiệm kỳ còn diễn biến phức tạp. 

Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở ở một số địa phương, cơ quan, đơn vị vẫn còn hình thức; chưa chú trọng công tác kiểm tra, giám sát thực hiện; việc công khai những nội dung theo quy định vẫn có nơi thực hiện chưa tốt.

C. NGUYÊN NHÂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

1. Nguyên nhân thành tựu 

Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương, cùng với sự năng động, sáng tạo, đoàn kết, quyết tâm vượt qua thử thách của Đảng bộ và Nhân dân thành phố. Chủ động nghiên cứu, mạnh dạn đề xuất, quyết liệt đeo bám, tranh thủ sự ủng hộ của các cơ quan Trung ương để xây dựng, đề xuất ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố. Ý thức trách nhiệm chính trị, sự đoàn kết, sự điều hành năng động, sáng tạo, dám chịu trách nhiệm và ý thức chấp hành kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố và Ban Thường vụ Thành ủy. Sự giúp đỡ, hỗ trợ từ các ban, bộ, ngành Trung ương tạo điều kiện để thành phố triển khai thực hiện hiệu quả nhiều chủ trương, chính sách của Trung ương, nhất là đã phát huy hiệu quả một số cơ chế, chính sách đặc thù theo Nghị quyết số 54/2017/QH14 của Quốc hội.

Trung ương ban hành nhiều văn bản, quy định ngày càng hoàn thiện và chặt chẽ về phương pháp, quy trình nghiệp vụ trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và quyết tâm của cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Việc giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ kiểm tra vững vàng chuyên môn nghiệp vụ, trong sáng, liêm chính về phẩm chất đạo đức. 

Ban Thường vụ Thành ủy chủ động, cụ thể hóa việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng bằng việc xây dựng, triển khai thực hiện Quy định số 1374-QĐ/TU, từng bước chỉ đạo giải quyết các thông tin phản ánh từ 04 nguồn thông tin phản ánh, giải quyết các nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của Nhân dân; qua đó, chỉ đạo xử lý những tập thể, cá nhân có hành vi vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. 

Việc phát huy dân chủ trong nội bộ và xã hội được tăng cường, góp phần huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân thực hiện có hiệu quả Nghị quyết đề ra. Sự quyết tâm đẩy mạnh cải cách hành chính, quyết liệt chỉ đạo công tác phối hợp liên ngành đã rút ngắn thời gian, tạo chuyển biến tích cực trong giải quyết hồ sơ công vụ. Công tác kiểm tra, sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm trong chỉ đạo của cấp ủy được quan tâm thực hiện thường xuyên, qua đó, đề ra các giải pháp đồng bộ, hiệu quả, phù hợp tình hình thực tế. Chú trọng đổi mới phương thức, nội dung chỉ đạo, điều hành, tạo động lực mới cho sự phát triển. Chủ động xây dựng kế hoạch, xác định rõ nội dung trọng tâm, trọng điểm, trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị trong công tác chỉ đạo, điều hành; quan tâm đi thực tế cơ sở, kịp thời giải quyết các khó khăn, vướng mắc.

2. Nguyên nhân hạn chế, yếu kém 

Sự bất cập, không đồng bộ giữa các quy định pháp luật, nhất là pháp luật về đầu tư, quy hoạch, đất đai, xây dựng, kinh doanh bất động sản đã ảnh hưởng rất lớn đến quá trình xử lý hồ sơ, đẩy nhanh tiến độ các dự án trên địa bàn, từ đó ảnh hưởng môi trường đầu tư kinh doanh của thành phố. Chưa có cơ chế đột phá trong công tác giải phóng mặt bằng; quy trình, thủ tục chậm ảnh hưởng đến thu hút đầu tư, tiến độ các công trình trọng điểm. Sự phối hợp giữa thành phố và các bộ, ngành Trung ương còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập cần khắc phục.

Việc phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ thành phố còn hạn chế; chưa phát huy hết vai trò giám sát, phản biện của Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Một số cấp ủy và lãnh đạo đơn vị nhận thức chưa đầy đủ và quyết tâm chưa cao, còn ngại khó; mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền với Nhân dân chưa được sâu sắc; chưa thực hiện tốt tự phê bình, phê bình; một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức còn xa dân, quan liêu, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của Nhân dân. Cơ chế đánh giá, xác định trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy và chính quyền các cấp chưa rõ, chưa tạo động lực mạnh cho người đứng đầu cấp ủy phát huy cao nhất vai trò và chịu trách nhiệm cao nhất về tình hình của địa phương và đơn vị của mình. Nhiều vụ việc phức tạp, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, xảy ra đã qua nhiều thời kỳ nên việc xem xét, xử lý kéo dài.

Dân số tăng nhanh, bình quân 5 năm tăng thêm 01 triệu người tạo áp lực lớn trong phát triển hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, trong quản lý đô thị của thành phố. Cơ cấu sử dụng đất chưa phù hợp với cơ cấu kinh tế, chậm được thay đổi trong 20 năm qua. Hiệu quả sử dụng các nguồn lực nhà nước và nguồn lực xã hội đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội thành phố còn hạn chế. Tỷ lệ điều tiết cho ngân sách thành phố liên tục giảm qua từng giai đoạn, giai đoạn 2017 - 2020 giảm còn 18% làm cho thành phố thiếu nguồn lực tài chính để phát triển hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội trong thời gian dài; cơ chế, chính sách tài chính, ngân sách đặc thù theo Nghị quyết số 54/2017/QH14 của Quốc hội chưa có điều kiện triển khai (nguồn vốn từ cổ phần hóa, bán nhà, đất của Trung ương trên địa bàn, các loại phí mới,...). 

3. Bài học kinh nghiệm 

Qua 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ X, Đảng bộ thành phố đúc kết 06 bài học kinh nghiệm:

Thứ nhất, huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị. Quyết liệt, kiên trì trong đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát của cấp ủy có trọng tâm, trọng điểm để tạo các chuyển biến có tính đột phá. Vai trò lãnh đạo của Đảng, trách nhiệm của các cấp ủy, người đứng đầu là nhân tố quyết định thành công.

Thứ hai, các chủ trương, chính sách phải đảm bảo an dân, tạo niềm tin trong Nhân dân, tăng cường sự đoàn kết, gắn bó giữa Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân thành phố, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trong mọi tình huống. 

Thứ ba, giữ gìn đoàn kết, phát huy sự năng động, sáng tạo, dám chịu trách nhiệm về những kiến nghị của thành phố với Trung ương. Tranh thủ sự đồng tình, hỗ trợ và phối hợp chặt chẽ của các ban, bộ, ngành Trung ương và các địa phương, mạnh dạn đề xuất, kiên trì đeo bám, kiến nghị các cơ chế, chính sách đặc thù để thành phố phát triển nhanh, bền vững. Từng thời kỳ phải quan tâm xác định các điểm nghẽn cản trở sự phát triển của thành phố và các nguồn lực nội địa và quốc tế cần khai thác mạnh mẽ. Phải coi liên kết vùng, hợp tác quốc tế với các đối tác chiến lược là yếu tố có ý nghĩa sống còn để đảm bảo sự phát triển bền vững của thành phố.

Thứ tư, thực sự quan tâm công tác xây dựng Đảng, quyết liệt thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tăng cường, kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, thực hiện nghiêm trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, các đồng chí bí thư cấp ủy và thủ trưởng đơn vị thực sự là tấm gương để cán bộ, đảng viên và Nhân dân noi theo. Đánh giá, quy hoạch, bố trí đúng cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ đủ năng lực, phẩm chất để lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.

Thứ năm, cần tiếp tục hoàn thiện phương pháp và nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo của cấp ủy đối với hoạt động của chính quyền cùng cấp và cụ thể hóa cơ chế Đảng chịu trách nhiệm trước Nhân dân, trước pháp luật về các quyết định của mình. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với công tác thông tin, truyền thông, hoạt động của các cơ quan báo chí. Phát huy mạnh mẽ vai trò giám sát, phản biện của Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng.

Thứ sáu, nắm vững và có những chương trình, kế hoạch cụ thể để triển khai các Nghị quyết của Trung ương phù hợp với thực tiễn thành phố. Xây dựng mối quan hệ gắn bó và tranh thủ sự giúp đỡ, hỗ trợ của các ban, bộ, ngành Trung ương trong quá trình tổ chức thực hiện những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi phát triển thành phố.

                                                                           *   *    *
Trong giai đoạn 2011 - 2020, thành phố triển khai thực hiện có hiệu quả Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bổ sung, phát triển năm 2011 và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 bằng các chương trình, kế hoạch cụ thể; thành phố liên tục đạt mức tăng trưởng kinh tế khá, vừa tuân theo quy luật của kinh tế thị trường, vừa bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ bản hoàn thành chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và chương trình giảm nghèo bền vững, lĩnh vực xã hội có tiến bộ, giáo dục và đào tạo, y tế có bước phát triển mới, toàn diện; bám sát định hướng mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; chất lượng đời sống Nhân dân được nâng cao125

Trong quá trình tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ X, nhiệm kỳ 2015 - 2020, Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố luôn quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, Kết luận số 21-KL/TW ngày 24 tháng 10 năm 2017 của Bộ Chính trị về sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 16-NQ/TW của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020. Bên cạnh những điều kiện thuận lợi, cũng có nhiều khó khăn, thách thức, nhất là trong điều kiện thành phố có biến động về nhân sự, phải xử lý những vụ việc phức tạp kéo dài, Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố, Ban Thường vụ Thành ủy tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, ý chí vươn lên, quyết tâm khắc phục những tồn tại, yếu kém, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cùng sự nỗ lực phấn đấu của cả hệ thống chính trị, thành phố đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, toàn diện trên các lĩnh vực: Giữ vững vai trò đầu tàu, trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước. 11/14 chỉ tiêu Đại hội X Đảng bộ thành phố hoàn thành, trong đó, 4 chỉ tiêu vượt kế hoạch. Công tác quy hoạch, quản lý và phát triển hạ tầng và dịch vụ đô thị đạt nhiều kết quả thiết thực. Văn hóa - xã hội, y tế, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ tiếp tục phát triển; đặc biệt, năm 2020 trước đại dịch Covid-19, thành phố đã chỉ đạo quyết liệt với nhiều giải pháp sáng tạo phòng, chống dịch hiệu quả, chủ động hỗ trợ doanh nghiệp, người lao động và phục hồi kinh tế. Chất lượng cuộc sống người dân được nâng cao. Qua phong trào đền ơn đáp nghĩa, chăm lo cho người nghèo, vấn đề đảm bảo an sinh xã hội, chăm lo đời sống cho các đối tượng nghèo, gia đình chính sách, có công có nhiều tiến bộ. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Cơ bản hoàn thành chương trình xây dựng nông thôn mới. Phong trào vì biên giới hải đảo và phong trào thi đua yêu nước tiếp tục có bước phát triển. 

Việc thực hiện 07 Chương trình đột phá thông qua những giải pháp và kết quả đạt được trong từng chương trình đã góp phần vào sự phát triển của thành phố. Tuy nhiên, mức độ hoàn thành của một số chương trình đột phá còn hạn chế.

Công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và vận động Nhân dân đã tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ và đạt nhiều kết quả có ý nghĩa. Hệ thống chính trị được củng cố, hoạt động hiệu quả hơn; cán bộ, đảng viên tin tưởng vào đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, lòng tin trong Nhân dân từng bước được củng cố, đóng góp quan trọng vào ổn định, bảo vệ và phát triển thành phố. Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã được các cấp ủy tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, chú trọng nhận diện, gắn với việc thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Quy định số 1374-QĐ/TU của Ban Thường vụ Thành ủy. Công tác tự phê bình, phê bình trong sinh hoạt Đảng, phát huy vai trò nêu gương của cấp ủy, nhất là người đứng đầu có tiến bộ. 

Tập thể Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố và Ban Thường vụ Thành ủy đoàn kết, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện đúng quy chế làm việc, có tính chiến đấu, chịu trách nhiệm trước Đảng bộ và Nhân dân thành phố, có nhiều nỗ lực, tìm tòi, sáng tạo để tạo cơ chế và mô hình mới phát triển thành phố, vì cả nước, cùng cả nước.

Yếu kém lớn nhất trong lãnh đạo của Thành ủy là chưa phát huy được hết tiềm năng, lợi thế của thành phố, của hợp tác Vùng và hợp tác quốc tế để thành phố phát triển nhanh hơn, bền vững hơn. Công cuộc chống tham nhũng, suy thoái đã có tiến bộ, song chưa căn bản, chưa đáp ứng yêu cầu của Đảng, của Nhân dân và đòi hỏi phát triển của thành phố.

PHẦN THỨ HAI

MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ, XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ THÀNH PHỐ NHIỆM KỲ 2020 - 2025

I. BỐI CẢNH VÀ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ

1. Bối cảnh quốc tế

Phát triển bền vững, tăng trưởng xanh đã trở thành xu thế bao trùm thế giới. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn biến rất nhanh, sâu rộng, tạo ra các cơ hội mới và thách thức mới với các nước trên thế giới. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương có vai trò ngày càng lớn trong nền kinh tế toàn cầu. Tăng trưởng kinh tế toàn cầu có xu hướng giảm, không đồng đều giữa các khu vực, chịu tác động đan xen của nhiều yếu tố. Hợp tác phát triển giữa các nước và các khu vực tiếp tục gia tăng; đồng thời, các yếu tố mất ổn định tiếp tục ảnh hưởng đến phát triển ở các khu vực, nhất là chiến tranh thương mại giữa các cường quốc, sự mất ổn định về chính trị của một số quốc gia trong khu vực. Biến đổi khí hậu gia tăng, sự nóng lên toàn cầu, nước biển dâng, tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp kéo dài sẽ đặt ra nhiều thách thức mới cho phát triển bền vững. Xu thế hình thành các thành phố thông minh ngày càng gia tăng.

2. Bối cảnh trong nước

Sau hơn 30 năm đổi mới, thế và lực của nước ta đã lớn mạnh hơn nhiều và tích lũy thêm kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý, điều hành phát triển kinh tế - xã hội. Vị thế của Việt Nam ở khu vực và trên thế giới tăng. Công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống suy thoái, tham nhũng, lãng phí phải tiếp tục được đẩy mạnh hơn nữa để tiếp tục đảm bảo ổn định chính trị và phát triển bền vững đất nước. Nước ta vẫn đang đứng trước nhiều thách thức: năng suất lao động thấp, việc tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mới bắt đầu, hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng năng lượng còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu gia tăng, nhất là các tỉnh phía Nam, bất ổn định ở khu vực tiếp tục tác động đến phát triển đất nước.

Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn nhất, với mật độ dân số cao nhất cả nước, tiếp tục chịu áp lực gia tăng dân số cơ học lớn nhất và bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu mạnh nhất cả nước. Thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới đất nước nói chung và sự phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng có tác động nhiều mặt đến các tầng lớp Nhân dân thành phố. Đời sống Nhân dân được cải thiện, trình độ dân trí được nâng cao, quyền làm chủ của Nhân dân được phát huy, nhu cầu được tham gia các hoạt động văn hóa, xã hội, nghề nghiệp của các tầng lớp Nhân dân ngày càng đa dạng; các tổ chức hội quần chúng ngày càng phát triển. Mặt khác, nhiều vấn đề xã hội phức tạp tiếp tục nảy sinh, gây áp lực trong hoạt động lãnh đạo, quản lý, nhất là sự gia tăng dân số cơ học, phân hóa giàu nghèo, sự ảnh hưởng của văn hóa “ngoại lai”, tình trạng tham nhũng, buôn lậu và các tệ nạn xã hội, “tín dụng đen”, “bảo kê”,... còn diễn biến phức tạp. Với sự phát triển vượt bậc của khoa học - kỹ thuật, mạng xã hội đã trở thành môi trường thông tin, tương tác của đại bộ phận Nhân dân, tác động nhanh, mạnh đến suy nghĩ, tình cảm và hành vi của người dân, nhất là công nhân, người lao động.

Đầu năm 2020, do tác động của dịch bệnh Covid-19 đã gây ra khủng hoảng kinh tế toàn cầu, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế của thành phố, gây áp lực lớn trong vấn đề đảm bảo an sinh xã hội và trật tự an toàn xã hội trong thời gian tới.

3. Mục tiêu phát triển định hướng đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045126

3.1. Mục tiêu tổng quát 

“Tăng cường xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với niềm tin của Nhân dân; phát huy truyền thống đoàn kết, năng động, sáng tạo, nghĩa tình, huy động hiệu quả mọi nguồn lực và tận dụng thời cơ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh; không ngừng đổi mới, sáng tạo, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh; xây dựng thành phố thông minh, phát triển nhanh, bền vững, giữ vững vai trò đầu tàu kinh tế của cả nước; đẩy mạnh phát triển văn hóa, tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội, xây dựng gia đình hạnh phúc; vì cả nước, cùng cả nước, vì hạnh phúc của Nhân dân; thành phố là trung tâm về kinh tế, tài chính, thương mại, khoa học - công nghệ và văn hóa của khu vực Đông Nam Á”.

3.2. Mục tiêu cụ thể 

- Đến năm 2025: Là đô thị thông minh, thành phố dịch vụ, công nghiệp theo hướng hiện đại, giữ vững vai trò đầu tàu kinh tế, động lực tăng trưởng của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước, đi đầu trong đổi mới sáng tạo, có chất lượng sống tốt, văn minh, hiện đại, nghĩa tình. GRDP bình quân đầu người khoảng 8.500 - 9.000 USD.

- Đến năm 2030: Là thành phố dịch vụ, công nghiệp hiện đại, thành phố văn hóa, đầu tàu về kinh tế số, xã hội số, GRDP bình quân đầu người khoảng 13.000 - 14.000 USD127, là trung tâm về kinh tế, tài chính, thương mại, khoa học - công nghệ và văn hóa của khu vực Đông Nam Á.

- Tầm nhìn đến năm 2045: Trở thành trung tâm về kinh tế, tài chính của Châu Á, phát triển bền vững, có chất lượng cuộc sống cao, GRDP bình quân đầu người khoảng 40.000 USD, là điểm đến hấp dẫn toàn cầu128.

4. Các chỉ tiêu phát triển chủ yếu nhiệm kỳ 2020 - 2025129 

Các chỉ tiêu phát triển chủ yếu giai đoạn 2020 - 2025 như sau:

1. Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa trên địa bàn thành phố (GRDP) bình quân hàng năm từ 8 - 8,5%, duy trì tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GRDP trên 60%130.

2. Phấn đấu kinh tế số đóng góp khoảng 25% đến năm 2025, 40% đến năm 2030 trong GRDP của thành phố.

3. GRDP bình quân đầu người đến cuối năm 2025 đạt từ 8.500 - 9.000 USD/người.

4. Tổng vốn đầu tư xã hội chiếm bình quân khoảng 35% GRDP.

5. Tỷ trọng đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào GRDP đến năm 2025 đạt từ 45 - 50%.

6. Chi đầu tư cho khoa học và công nghệ của xã hội131 đạt bình quân trên 1%/GRDP132.

7. Tốc độ tăng năng suất lao động xã hội bình quân đạt 7%/năm. 

8. Đến năm 2025, tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo nghề có chứng chỉ hoặc giấy chứng nhận đạt 87% trong tổng số lao động đang làm việc.

9. Trong 5 năm, tạo việc làm mới cho 700.000 lao động (bình quân 140.000 lao động/năm), tỷ lệ thất nghiệp đô thị dưới 4%.

10. Đến cuối năm 2025, cơ bản không còn hộ nghèo theo tiêu chuẩn nghèo cả nước; còn dưới 0,5% hộ nghèo theo chuẩn nghèo thành phố.

11. Đến cuối năm 2025, đạt tỷ lệ 21 bác sĩ/vạn dân, 42 giường bệnh/vạn dân133.

12. Tiếp tục duy trì đạt 300 phòng học/vạn dân trong độ tuổi đi học (từ 3 đến 18 tuổi). Đảm bảo 100% trẻ trong độ tuổi đến trường đều được đi học.

13. Đến năm 2025, tổng tỷ suất sinh đạt ít nhất 1,4 con/phụ nữ (tuổi sinh đẻ) (hướng tới 2030: 1,6 con/phụ nữ).

14. Tiếp tục duy trì 100% số hộ dân sử dụng nước sạch.

15. Tiếp tục duy trì xử lý chất thải y tế và nước thải công nghiệp đạt 100%.

16. Đến năm 2025, tỷ lệ xử lý rác thải sinh hoạt bằng công nghệ mới hiện đại (đốt phát điện) và tái chế đạt ít nhất 80% (hướng tới 2030: 100%).

17. Đến năm 2025, tỷ lệ đất giao thông trên đất xây dựng đô thị đạt 15%, mật độ đường giao thông bình quân trên diện tích đất toàn thành phố đạt 2,5 km/km2.

18. Giai đoạn 2021 - 2025, tổng diện tích nhà ở xây dựng mới đạt 50 triệu mvà đến cuối năm 2025, diện tích nhà ở bình quân đầu người đạt 23,5 m2/người134.

19. Đến năm 2025, diện tích cây xanh đô thị đạt không dưới 0,65m2/người135 (hướng tới 2030 không dưới 1m2/người).

20. Phấn đấu thành phố nằm trong nhóm 5 địa phương dẫn đầu cả nước về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) và về chỉ số cải cách hành chính (PAR-index).

21. Tỷ lệ người dân hài lòng với sự phục vụ của các cơ quan hành chính nhà nước ở từng lĩnh vực đạt 95% trở lên.

22. Giữ vững an ninh chính trị, kéo giảm phạm pháp hình sự và tăng tỷ lệ điều tra khám phá án; giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố trên 90%, kéo giảm ít nhất 5% số người chết do tai nạn giao thông hằng năm, nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy và kéo giảm 10% số vụ cháy lớn, cháy gây thiệt hại nghiêm trọng so với nhiệm kỳ trước.

23. Tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng đạt hoàn thành tốt nhiệm vụ năm sau cao hơn năm trước, chất lượng ngày càng cao hơn; giảm tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng yếu kém xuống dưới 0,5%.

24. 100% người đứng đầu cấp ủy, chính quyền thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương theo Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25 tháng 10 năm 2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII.

25. Kiểm tra, giám sát đối với 100% tổ chức đảng, đảng viên về việc thực hiện các thông báo, kết luận sau kiểm tra, giám sát của cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp.

26. 100% các quận ủy, huyện ủy, đảng ủy cấp trên cơ sở trực thuộc Thành ủy có chương trình cải cách hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin quản lý tương đương với cải cách hành chính và chính quyền số ở Thành phố Hồ Chí Minh. 

II. QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ

1. Đảng bộ thành phố có trách nhiệm lãnh đạo sự phát triển toàn diện của thành phố và chịu trách nhiệm trước Nhân dân về các quyết định của mình. Đảng viên phải là người gương mẫu chấp hành pháp luật, đi đầu trong lao động có hiệu quả cao, đổi mới, sáng tạo. Phải lấy sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo kết quả sự lãnh đạo. Đảng bộ phải lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh không ngừng đổi mới, sáng tạo, phát triển toàn diện vì cả nước, cùng cả nước, vì hạnh phúc của Nhân dân.

2. Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục giữ vững vai trò đầu tàu kinh tế của cả nước, đi đầu trong thực hiện mô hình tăng trưởng mới. Phát triển nhanh và bền vững trên cơ sở nghiên cứu và ứng dụng mạnh mẽ khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và tăng năng suất lao động, là trung tâm khởi nghiệp sáng tạo lớn nhất cả nước, đi đầu trong việc tận dụng các cơ hội của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, phát triển mạnh kinh tế số, kinh tế chia sẻ, kinh tế tuần hoàn. Khuyến khích, hỗ trợ để hình thành các doanh nghiệp có quy mô lớn, tiềm lực mạnh, có khả năng cạnh tranh cao ở khu vực.

3. Phát triển hài hòa kinh tế và văn hóa - xã hội, bảo vệ môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, ý chí tự cường và truyền thống của Thành phố Hồ Chí Minh, phát huy vai trò nền tảng của văn hóa, xây dựng gia đình hạnh phúc để thành phố và đất nước phát triển bền vững. Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một không gian văn hóa Hồ Chí Minh, nơi tư tưởng, đạo đức, phong cách và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn hiện hữu thường xuyên, trở thành tài sản tinh thần, giá trị văn hóa đặc trưng của người dân, cán bộ, đảng viên của thành phố mang tên Bác. Khơi dậy khát vọng và sức sáng tạo của Nhân dân thành phố, phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và là mục tiêu của sự phát triển. Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ quốc tế ở các lĩnh vực ưu tiên. Không ngừng nâng cao chất lượng sống của Nhân dân thành phố.

4. Phát huy hiệu quả mọi nguồn lực xây dựng các hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; tập trung ưu tiên đầu tư các dự án hạ tầng giao thông và hạ tầng số với hệ thống thông tin di động 5G.

5. Đẩy mạnh liên kết vùng, hợp tác quốc tế, đặc biệt thông qua thỏa thuận hợp tác chiến lược giữa các bên trên các lĩnh vực ưu tiên của thành phố.

6. Phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với đảm bảo quốc phòng, an ninh, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc. Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong mọi tình huống, đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập của thành phố.

7. Kiên quyết, kiên trì thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, đấu tranh quyết liệt, ngăn chặn hiệu quả suy thoái lý tưởng, đạo đức, tự diễn biến và tham nhũng. Phát huy dân chủ, vai trò Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố và các tổ chức chính trị - xã hội giám sát, phản biện ngày một hiệu quả hơn hoạt động và chính sách của Đảng và quản lý của Nhà nước, xây dựng Đảng, chính quyền thực sự trong sạch, vững mạnh.

8. Chủ động xây dựng và phát triển đội ngũ lãnh đạo của thành phố ở các cấp, các ngành, lĩnh vực có đức, có tài, ngang tầm với nhiệm vụ phát triển thành phố và đất nước thời kỳ 2025 - 2045.

III. CÁC NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1. Phát triển kinh tế nhanh và bền vững trên cơ sở ứng dụng mạnh mẽ khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và tăng năng suất lao động

1.1. Tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu hội nhập

Nâng cao chất lượng tăng trưởng, phát triển nhanh các ngành kinh tế chủ lực, có giá trị gia tăng cao. Ứng dụng mạnh mẽ khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo nhằm tăng năng suất lao động, tăng tỷ trọng đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp vào tăng trưởng GRDP.

Phát huy vai trò của đô thị sáng tạo tương tác cao phía Đông thành phố, triển khai mô hình kinh tế tuần hoàn, kinh tế chia sẻ phù hợp với xu thế phát triển của kinh tế số và thực tiễn phát triển của thành phố. Phát triển kinh tế xanh, tăng cường sử dụng năng lượng tái tạo thay cho năng lượng truyền thống. Bảo đảm an ninh kinh tế trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế; thực hiện hiệu quả các giải pháp phát triển kinh tế nhanh, bền vững gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh.

1.2. Tập trung phát triển nhanh các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao, thế mạnh của thành phố 

Tập trung quy hoạch, đầu tư phát triển các ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng, du lịch, thương mại, quy hoạch hạ tầng dịch vụ để thành phố tiếp tục là trung tâm lớn nhất về hoạt động cảng, logistics và dịch vụ xuất khẩu miền Nam; dành diện tích đất thích hợp đáp ứng nhu cầu phát triển của các ngành; hình thành cơ sở dữ liệu liên thông và dùng chung để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu trong khu vực. Triển khai thực hiện Đề án phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm tài chính khu vực và quốc tế, Kế hoạch phát triển ngành logistics giai đoạn 2020 - 2030.

Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng khuyến khích sản xuất và xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao và xuất khẩu phần mềm, sản phẩm nội dung số. Hoàn thiện chính sách phát triển các sản phẩm chủ lực, có thương hiệu, có lợi thế cạnh tranh làm nền tảng xây dựng thương hiệu sản phẩm, doanh nghiệp thành phố tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Đẩy mạnh mở rộng thị trường, tận dụng tốt cơ hội mở cửa và lộ trình cắt giảm thuế quan từ hiệp định thương mại tự do với liên minh Châu Âu để đẩy mạnh xuất khẩu.

Đẩy mạnh phát triển hệ thống phân phối hàng hóa, coi trọng phát triển các kênh phân phối hàng hóa sản xuất trong nước136. Khuyến khích ứng dụng thương mại điện tử, phát triển các hình thức mua sắm hiện đại, thông minh.

Phát triển du lịch kết hợp phát triển công nghiệp văn hóa trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; triển khai Chiến lược phát triển du lịch thành phố giai đoạn 2020 - 2030; hình thành các sản phẩm du lịch hấp dẫn, đặc trưng và chủ lực của thành phố137, triển khai đồng bộ du lịch thông minh, hoàn thiện các cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch, tăng thời gian lưu trú, chi tiêu bình quân và tỷ lệ quay lại của khách du lịch. Đẩy mạnh hợp tác du lịch với 13 tỉnh, thành Đồng bằng sông Cửu Long và vùng Đông Nam bộ.

1.3. Phát triển công nghiệp có hàm lượng khoa học - công nghệ cao 

Tập trung phát triển công nghiệp theo chiều sâu, nhất là những ngành, lĩnh vực, những công đoạn có hàm lượng khoa học - công nghệ, giá trị gia tăng cao dựa trên nền tảng công nghiệp công nghệ cao và kinh tế số; đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ; tiếp tục phát triển 4 ngành công nghiệp trọng yếu138. Xây dựng mới các khu công nghiệp có chất lượng và tính cạnh tranh cao, phù hợp với các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao và hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, xây dựng khu công viên khoa học và công nghệ, từng bước chuyển đổi các khu công nghiệp, khu chế xuất theo hướng khu công nghiệp ứng dụng công nghệ cao; nhân rộng mô hình khu công nghệ cao. Chuyển dịch cơ cấu nội ngành công nghiệp theo hướng tự động hóa, quy trình sản xuất thông minh và sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo.

1.4. Phát triển nông nghiệp đô thị hiện đại, bền vững gắn với chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới

Tập trung vào phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch, nông nghiệp đô thị. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp; tập trung nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học để sản xuất giống cây, giống con chất lượng và năng suất cao, trở thành trung tâm giống cây, giống con của khu vực. 

Xây dựng và áp dụng bộ tiêu chí nông thôn mới phù hợp với quá trình đô thị hóa của vùng nông thôn thành phố; phát triển nông thôn mới theo hướng đô thị nông nghiệp công nghệ cao. 

1.5. Phát triển kinh tế biển và khu vực ven biển

Phát triển các ngành kinh tế biển139, huy động nguồn lực, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư cho phát triển bền vững biển; khuyến khích, tạo điều kiện xây dựng các doanh nghiệp kinh tế biển có thương hiệu, hoạt động hiệu quả.

1.6. Phát triển đồng bộ các thị trường phục vụ phát triển kinh tế

Hỗ trợ nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường lao động, bất động sản, khoa học và công nghệ, tài chính theo chuẩn mực của nền kinh tế thị trường đầy đủ, hội nhập quốc tế.

Về thị trường tài chính: Phát triển thị trường tài chính lành mạnh, hiện đại, an toàn, vận hành theo quy định của Trung ương và thông lệ quốc tế140.

Về thị trường hàng hóa: Nghiên cứu các phương án giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực từ các xung đột thương mại, các biến động lớn do thiên tai, dịch bệnh đến xuất khẩu, sản xuất; triển khai mạnh các sàn giao dịch hàng hóa, hình thành các chuỗi cung ứng; đẩy mạnh thương mại điện tử; khuyến khích sản xuất các sản phẩm trung gian, tăng tỷ lệ nội địa hóa, giảm thiểu tác động ảnh hưởng chi phối từ nước ngoài.

Phát triển mạnh thị trường khoa học và công nghệ141, khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, cải tiến sản phẩm, nâng cao năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh; phát huy hơn nữa vai trò các quỹ về phát triển khoa học - công nghệ. 

Quản lý chặt chẽ thị trường bất động sản; rà soát, xử lý các dự án chậm triển khai, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất; đồng thời, đẩy nhanh tiến độ đầu tư dự án nhà ở theo quy hoạch, tạo lập quỹ nhà ở hợp pháp, đáp ứng đầy đủ hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội142

Hoàn thiện và nâng cao chất lượng hệ thống thông tin dự báo thị trường lao động và chất lượng dịch vụ việc làm, triển khai các chính sách của Trung ương về cải cách tiền lương143; xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định.

1.7. Huy động có hiệu quả các nguồn lực cho phát triển thành phố

Tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực gắn với chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động trong 8 lĩnh vực trọng yếu đạt trình độ quốc tế, tạo lợi thế cạnh tranh lâu dài cho thành phố. Tăng cường đào tạo thường xuyên và đào tạo lại cho người lao động, đặc biệt là kỹ năng mềm, tính kỷ luật, kỷ cương lao động, đáp ứng yêu cầu Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Tiến hành rà soát và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, làm cơ sở quy hoạch hạ tầng dịch vụ, công nghiệp, nông nghiệp công nghệ cao và cảng, logistics. Đổi mới phương thức chuẩn bị đất cho nhà đầu tư; ứng dụng thí điểm đổi mới mạnh mẽ trong tổ chức triển khai thực hiện các dự án cải tạo và phát triển đô thị theo định hướng tích hợp, quản lý hiệu quả giá trị nguồn lực từ đất đai và đầu tư cơ sở hạ tầng trên nguyên tắc khuyến khích sự tham gia tích cực của các nguồn lực xã hội.

Huy động và khai thác mạnh mẽ tiềm năng các nguồn lực tài chính trong nước, ngoài nước để đầu tư phát triển thành phố. Tăng cường các biện pháp để quản lý và bồi dưỡng nguồn thu, đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời theo quy định của pháp luật. Nâng cao hiệu quả sử dụng tài chính công để phát huy nguồn vốn xã hội, nguồn vốn của các tổ chức tài chính quốc tế phát triển đô thị. Phát huy hiệu quả nguồn kiều hối tham gia vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh, phát triển thành phố.

1.8. Phát triển các thành phần kinh tế và mô hình kinh doanh mới

Tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển kinh tế tư nhân nói chung và doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng, trở thành một động lực quan trọng của kinh tế thành phố. Khuyến khích, hỗ trợ để hình thành các tập đoàn, doanh nghiệp có quy mô lớn, tiềm lực mạnh, có khả năng cạnh tranh cao ở khu vực và quốc tế. Có chính sách phù hợp để thu hút nhanh, hiệu quả các doanh nghiệp lớn ở trong nước và nước ngoài đầu tư có trọng tâm, chọn lọc, ưu tiên các dự án công nghệ cao, kết nối chuỗi cung ứng toàn cầu. Phát triển kinh tế hợp tác với mô hình hợp tác xã kiểu mới, thu hút ngày càng nhiều nông dân và các hộ kinh doanh tham gia kinh tế hợp tác144. Đẩy mạnh thực hiện việc sắp xếp, đổi mới và cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước theo kế hoạch.

1.9. Hợp tác, liên kết vùng và quốc tế

Huy động và khai thác mạnh mẽ tiềm năng các nguồn lực trong nước, ngoài nước để đầu tư phát triển thành phố. Đề xuất cơ chế điều phối, hợp tác Vùng hiệu quả trên nguyên tắc nhận diện đúng lợi thế cạnh tranh từng địa phương, các địa phương cùng chia sẻ lợi ích và hợp tác giữa các địa phương tạo ra lợi thế mới cho các bên. Phát huy vai trò nòng cốt của thành phố trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, phấn đấu xây dựng thành phố sớm trở thành trung tâm về kinh tế, tài chính, thương mại, khoa học - công nghệ và văn hóa của khu vực Đông Nam Á.

2. Phát triển văn hóa - xã hội đồng bộ với phát triển kinh tế, làm nền tảng cho thành phố phát triển bền vững

2.1. Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ quốc tế ở các lĩnh vực ưu tiên, phát huy vai trò trung tâm giáo dục - đào tạo của cả nước

Tiếp tục thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong 8 lĩnh vực ưu tiên: công nghệ thông tin - truyền thông; cơ khí - tự động hóa; trí tuệ nhân tạo; quản trị doanh nghiệp; tài chính - ngân hàng; y tế; du lịch; quản lý đô thị. Thực hiện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu xã hội của Việt Nam và hội nhập quốc tế.

Hoàn thiện hệ thống giáo dục theo hướng giáo dục thông minh, giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập. Xây dựng và phát triển mô hình “Trường tiên tiến, hiện đại theo xu thế hội nhập”. Đào tạo con người theo hướng yêu nước, tự hào dân tộc, có đạo đức, kỷ luật, ý thức trách nhiệm công dân, xã hội; có kỹ năng thực hành xã hội, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, tư duy sáng tạo và hội nhập quốc tế. Thực hiện tốt cơ chế phối hợp giữa ngành giáo dục với chính quyền địa phương, tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát các cơ sở, các loại hình dịch vụ giáo dục.

Hoàn chỉnh quy hoạch phát triển giáo dục nghề nghiệp. Tập trung nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục nghề nghiệp theo hướng linh hoạt, chuẩn hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; đào tạo nhân lực trình độ cao trong các ngành công nghiệp, dịch vụ chủ yếu, 08 ngành dịch chuyển lao động tự do trong khối ASEAN và các ngành công nghiệp hỗ trợ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Tăng cường nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp gắn với thực tế sản xuất, góp phần tăng năng suất lao động xã hội của thành phố.

Hoàn chỉnh quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng dành cho giáo dục đại học, khuyến khích hình thành các ngành đào tạo và các trường đại học đào tạo đạt trình độ quốc tế, nhất là 8 lĩnh vực ưu tiên đào tạo nhân lực trình độ cao của thành phố; hỗ trợ các đề án đại học chia sẻ, thực hiện đào tạo theo nhu cầu xã hội, tự chủ đại học theo quy định pháp luật nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực của thành phố và cả nước trong quá trình hội nhập. Xây dựng cơ chế hợp tác của các đại học với các doanh nghiệp và chính quyền khu đô thị sáng tạo tương tác cao phía Đông thành phố để hình thành vùng động lực mới cho thành phố và khu vực trong giai đoạn cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

2.2. Nâng cao sức khỏe cho người dân cả về tầm vóc, tinh thần, tuổi thọ cũng như chất lượng cuộc sống

Quy hoạch, đầu tư phát triển các bệnh viện thành phố trở thành trung tâm y tế chuyên sâu của khu vực phía Nam và khu vực Đông Nam Á. Hình thành trung tâm khám sức khỏe và tầm soát bệnh bằng công nghệ cao, phát triển du lịch y tế thu hút khách trong và ngoài nước đến Thành phố Hồ Chí Minh kết hợp du lịch và khám chữa bệnh. Phát triển y học cổ truyền trở thành một trong những hoạt động nổi bật của loại hình du lịch y tế. Đẩy mạnh xã hội hóa trong việc đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị hiện đại trong lĩnh vực y tế.

Đổi mới mạnh mẽ cơ chế và phương thức hoạt động của trạm y tế, thực hiện vai trò là tuyến đầu trong phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe. Thực hiện hiệu quả chính sách bảo hiểm y tế, chú trọng công tác khám, chữa bệnh cho các đối tượng chính sách và người nghèo.

Chủ động kiểm soát và ứng phó kịp thời với các dịch bệnh; triển khai có hiệu quả phong trào nâng cao sức khỏe Nhân dân. Nâng cao chất lượng dân số về thể chất; cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản; duy trì mức sinh hợp lý, giải quyết tốt những vấn đề về cơ cấu dân số và phân bổ dân cư đáp ứng nguồn nhân lực chất lượng cao của thành phố.

Tăng cường bảo đảm an toàn thực phẩm, nâng cao hiệu quả và hoàn thiện mô hình Ban quản lý an toàn thực phẩm, tập trung phát triển hệ thống sản xuất và phân phối thực phẩm sạch.

2.3. Phát triển khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo thực sự là động lực chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội 

Đổi mới, hoàn thiện thể chế, tạo thuận lợi cho phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; huy động mọi nguồn lực xã hội thúc đẩy phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp của thành phố.

Xây dựng các chương trình nghiên cứu, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo nhằm liên kết các trường, viện với doanh nghiệp, trong đó lấy doanh nghiệp là trung tâm. Ưu tiên các lĩnh vực ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ 5G và sau 5G, robot, công nghệ sinh học, in 3D, internet vạn vật, vật liệu mới và các công nghệ của cách mạng công nghiệp lần thứ tư khác. Phát triển đồng bộ khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên và công nghệ.

Đổi mới hạ tầng khoa học và công nghệ. Hình thành và tập trung đầu tư, phát triển Viện Công nghệ tiên tiến và đổi mới sáng tạo từng bước trở thành đơn vị nghiên cứu phát triển, chuyển giao công nghệ ngang tầm khu vực145. Đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu triển khai (R&D), trong đó chú trọng nghiên cứu ứng dụng và thương mại hóa kết quả và tập trung các sản phẩm chủ lực công nghệ cao.

Triển khai quy hoạch và xây dựng Khu đô thị sáng tạo tương tác cao phía Đông thành phố (bao gồm Quận 2, Quận 9 và quận Thủ Đức), đồng thời có cơ chế thúc đẩy hình thành các không gian hỗ trợ đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp trong cộng đồng nhằm thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động đổi mới sáng tạo của Nhân dân thành phố. 

Đẩy nhanh việc triển khai Công viên khoa học công nghệ thành phố là khu vực nghiên cứu, thực nghiệm, chuyển giao và ứng dụng khoa học - công nghệ; liên kết và bổ sung cho các chức năng của Khu Công nghệ cao hiện hữu. 

Thúc đẩy đào tạo và phát huy nguồn nhân lực khoa học và công nghệ phục vụ phát triển thành phố. Thực hiện tốt việc sử dụng, thu hút, trọng dụng, đãi ngộ, tôn vinh đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ.

2.4. Phát triển mạnh mẽ thông tin - truyền thông, xây dựng đô thị thông minh

Phát triển và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ viễn thông thế hệ thứ 5 (5G) và sau 5G trong quản lý đô thị của thành phố. Thực hiện chuyển đổi số trong quản trị thành phố, sản xuất - kinh doanh và tổ chức xã hội; xây dựng chính quyền số; ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin - truyền thông và các phương pháp khoa học dữ liệu để nâng cao chất lượng hoạt động thống kê, dự báo kinh tế - xã hội trong giai đoạn 2020 - 2025.

Triển khai các giải pháp để đảm bảo an toàn, an ninh mạng. Chú trọng việc đào tạo, chuyển đổi nhân lực đáp ứng nhu cầu đổi mới công nghệ và sản xuất của cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Triển khai Quy hoạch báo chí theo kết luận của Bộ Chính trị và quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Chỉ đạo, định hướng thông tin báo chí, thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, bảo đảm khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đấu tranh phản bác đối với những luận điệu xuyên tạc, thông tin xấu độc; xử lý nghiêm các vi phạm. Có giải pháp hiệu quả để giám sát, quản lý các mạng xã hội, tăng cường công tác quản lý đối với các nhà xuất bản và hoạt động xuất bản. 

2.5. Xây dựng môi trường văn hóa, nghệ thuật, thể thao lành mạnh, đáp ứng nhu cầu thụ hưởng của người dân, hình thành không gian văn hóa Hồ Chí Minh, phát huy đặc trưng của con người thành phố

Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, hình thành không gian văn hóa Hồ Chí Minh. Phát huy đặc trưng, văn hóa, tính cách của con người thành phố luôn năng động, sáng tạo, đi đầu, dám chấp nhận thử thách, nhân ái, nghĩa tình. Quy hoạch và phát triển các cơ sở văn hóa, các chương trình nghệ thuật thường niên gắn với tư tưởng, đạo đức, phong cách và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, làm cho văn hóa Hồ Chí Minh thấm sâu vào người dân thành phố, là một nguồn sức mạnh đặc thù của con người thành phố mang tên Bác. Huy động sức mạnh của toàn hệ thống chính trị để nâng cao chất lượng cuộc sống gia đình, xây dựng gia đình hạnh phúc. 

Thực hiện tốt cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, trong đó tập trung phát triển giáo dục thể chất, thể thao trong nhà trường, trong cộng đồng và thể thao thành tích cao146. Tập trung đầu tư trọng điểm thể thao thành tích cao, duy trì và phát triển thêm các môn thế mạnh giữ vị trí đứng đầu trong cả nước, đóng góp cho quốc gia nhiều huấn luyện viên, vận động viên đạt thành tích trong khu vực, châu Á và thế giới.

Tổ chức tốt các hoạt động văn hóa, thể thao phục vụ các sự kiện, lễ hội lớn của thành phố, góp phần gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp. Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng các dân tộc, hình thành và phát huy không gian văn hóa Hồ Chí Minh, các giá trị văn hóa mang nét đặc trưng của Nhân dân thành phố. Quan tâm trùng tu, tôn tạo các công trình, di tích văn hóa. Tiếp tục nghiên cứu cơ chế, chính sách để thu hút xã hội hóa nhằm phát triển loại hình di sản văn hóa, lễ hội truyền thống; nghiên cứu và ban hành chính sách tài chính phù hợp cho sự phát triển văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao. Đề xuất công nhận di sản văn hóa vật thể thế giới đối với Địa đạo Củ Chi. Tăng cường tuyên truyền, quảng bá, phát huy giá trị của Đờn ca tài tử Nam bộ, nghệ thuật cải lương và các loại hình nghệ thuật truyền thống khác bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú, hấp dẫn.

Tập trung đầu tư xây dựng một số công trình văn hóa147, thể thao tiêu biểu, mang tầm vóc khu vực, tương xứng vai trò, vị trí của một đô thị đặc biệt và thành phố mang tên Bác. Đẩy mạnh thực hiện chủ trương xã hội hóa, có chính sách khuyến khích, kêu gọi các nguồn lực xã hội đầu tư vào lĩnh vực hoạt động và xây dựng cơ sở vật chất văn hóa, thể thao, tạo điều kiện tiếp tục phát triển các cơ sở văn hóa, thể thao ngoài công lập.

Tiếp tục hoàn thiện, củng cố hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở đáp ứng yêu cầu, nhu cầu hưởng thụ văn hóa của Nhân dân148. Phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa; trọng tâm là thực hiện Đề án Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2020 - 2030.

Phát triển mạnh mẽ, đa dạng các loại hình văn học nghệ thuật và quảng bá tác phẩm. Tiếp tục đổi mới hoạt động lý luận phê bình văn học nghệ thuật, nâng cao tính khoa học, tính thuyết phục, tính hướng dẫn, góp phần quảng bá tác phẩm văn học nghệ thuật và định hướng thẩm mỹ cho công chúng. Tập trung xây dựng và phát triển đội ngũ văn nghệ sĩ đáp ứng yêu cầu tiếp tục phát triển mạnh mẽ văn học nghệ thuật trong giai đoạn đẩy mạnh hội nhập quốc tế. 

Đẩy mạnh phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh. Tăng cường hoạt động văn hóa, thể thao, liên kết Vùng và đối ngoại, phát huy vai trò trung tâm văn hóa của Việt Nam và khu vực.

2.6. Chăm lo người có công, hỗ trợ người nghèo, bảo vệ người lao động

Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo trong triển khai thực hiện chính sách đối với người có công. Thực hiện tốt các chế độ, chính sách ưu đãi, các giải pháp nhằm nâng cao đời sống người có công và thân nhân. Đẩy mạnh phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” và công tác xã hội hóa, huy động nguồn lực xã hội để góp phần cải thiện đời sống cho người có công. 

Huy động, sử dụng hiệu quả nguồn vốn ưu đãi và tín dụng nhỏ theo nhu cầu của hộ nghèo, cận nghèo để phát triển kinh tế hộ, hỗ trợ phương tiện làm ăn, giới thiệu việc làm, hỗ trợ kéo giảm các thiếu hụt về dịch vụ xã hội. Tuyên truyền nâng cao nhận thức trách nhiệm của người nghèo, đảm bảo giảm nghèo toàn diện, bền vững. 

Thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về thanh niên. Tăng cường lãnh đạo về công tác bình đẳng giới; nâng cao vị thế phụ nữ; thực hiện đồng bộ các mục tiêu, chỉ tiêu bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực trên cơ sở hướng đến thành phố an toàn, thân thiện với phụ nữ và trẻ em; tăng cường phối hợp trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em. Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác điều trị, cai nghiện ma túy. Có chính sách đãi ngộ khuyến khích cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động phòng, chống ma túy, mại dâm.

3. Phát huy hiệu quả mọi nguồn lực phát triển hệ thống hạ tầng đô thị đồng bộ 

3.1. Đẩy mạnh thiết kế đô thị phục vụ quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ

Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, gắn công tác quy hoạch với tổ chức thực hiện quy hoạch, xem quy hoạch là công cụ quan trọng để quản lý và điều hành phát triển kinh tế - xã hội. Đẩy mạnh thiết kế đô thị toàn diện, đồng bộ khu trung tâm thành phố (930 ha), khu đô thị mới và các khu đô thị hiện hữu, ổn định; tiếp tục rà soát, cơ cấu lại quy hoạch sử dụng đất và quy chuẩn các công trình xây dựng theo hướng tiết kiệm năng lượng, thân thiện môi trường, đa chức năng; quy hoạch không gian phát triển (trên mặt đất, dưới mặt đất, trên mặt nước, dưới mặt nước); thu hút mạnh mẽ sự tham gia của người dân, nhà khoa học và doanh nghiệp trong quá trình rà soát, điều chỉnh và thực hiện quy hoạch149. Hoàn thành quy hoạch không gian ngầm, quy hoạch và quản lý tốt, hiệu quả quỹ đất đai và cơ sở hạ tầng dọc bờ sông, kênh, rạch. Hoàn thành quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội thành phố thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045, điều chỉnh quy hoạch chung Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2040, tầm nhìn đến năm 2060.

Có giải pháp mạnh mẽ tạo bước đột phá trong xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ và hiện đại, kết nối với hạ tầng các tỉnh Vùng Đông Nam bộ, Tây Nam bộ và đáp ứng yêu cầu của một đô thị đầu tàu kinh tế của cả nước.

3.2. Tiếp tục phát triển ngành xây dựng, đẩy mạnh chỉnh trang và phát triển đô thị, tạo diện mạo mới cho vùng nông thôn 

Tập trung phát triển xây dựng theo hướng đô thị xanh, văn minh; nâng cao năng lực thiết kế, thi công xây lắp với kỹ thuật cao, sử dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại, vật liệu mới, tiết kiệm năng lượng, thích ứng biến đổi khí hậu, thân thiện môi trường, từng bước mở rộng phát triển ngành xây dựng vươn tầm khu vực và quốc tế. Tạo quỹ đất ven sông, rạch, xây dựng chính sách phù hợp đẩy mạnh thu hút các thành phần kinh tế đầu tư để chỉnh trang và phát triển đô thị, đẩy mạnh xây dựng mới các chung cư cũ, triển khai các dự án phát triển nhà ở xã hội, ưu tiên đầu tư lĩnh vực phát triển nhà ở dành cho người thu nhập thấp. Phấn đấu hoàn thành việc di dời toàn bộ nhà ở trên và ven kênh, rạch, tổ chức lại cuộc sống của dân cư. Đẩy mạnh chỉnh trang các khu nhà lụp xụp, đồng thời thu hút đầu tư xây dựng các khu đô thị mới: Khu đô thị sáng tạo tương tác cao phía Đông, Khu đô thị mới Thủ Thiêm, Khu đô thị Nam thành phố, Khu đô thị Tây Bắc, Khu đô thị Bình Quới - Thanh Đa, Khu đô thị lấn biển Cần Giờ. Đẩy nhanh phát triển hạ tầng xã hội (trường học, bệnh viện và các thiết chế văn hóa). Đồng thời đầu tư đồng bộ cơ sở hạ tầng nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới, đáp ứng yêu cầu sản xuất - kinh doanh và cải thiện điều kiện dân sinh.

3.3. Nâng cao hiệu quả công tác giảm ngập nước và ứng phó với biến đổi khí hậu

Điều chỉnh quy hoạch tổng thể thoát nước kết hợp quy hoạch thủy lợi chống ngập úng phù hợp với quy hoạch Vùng, quy hoạch xây dựng thành phố trong bối cảnh nước biển dâng và biến đổi khí hậu gia tăng. Phát huy hiệu quả dự án giảm ngập do triều sau khi hoàn thành. Huy động các nguồn lực thực hiện quy hoạch150, trong đó có các nguồn lực xã hội tham gia triển khai các dự án xóa, giảm ngập. Tổ chức quản lý có hiệu quả hệ thống thoát nước hiện hữu theo xu hướng điều tiết thông minh; nâng cao ý thức của người dân tham gia bảo vệ hệ thống thoát nước, chung tay xóa, giảm ngập, cùng chính quyền thành phố giữ gìn, bảo tồn diện tích mặt nước tự nhiên, xử lý triệt để tình trạng khai thác nước ngầm trái phép. Nghiên cứu các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu, chống ngập sẽ triển khai giai đoạn 2030 - 2050.

3.4. Tập trung xây dựng thành phố sạch và xanh, thân thiện với môi trường

Triển khai thực hiện các chương trình đảm bảo vệ sinh môi trường, phát triển mảng xanh đô thị, năng lượng xanh, giao thông xanh, tiến đến xây dựng hoàn thiện hạ tầng xanh151, khuyến khích sản xuất và tiêu dùng bền vững152. Tiếp tục đẩy nhanh việc chuyển đổi công nghệ xử lý rác của các nhà máy và công tác đấu thầu các dự án xử lý rác thải sinh hoạt mới và rác đã chôn lấp đáp ứng chỉ tiêu công nghệ đến năm 2025 rác chôn lấp giảm còn không quá 20%.

Tăng cường việc thanh tra, kiểm tra thực hiện công tác quản lý, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường; kiểm tra sau giao đất, cho thuê đất các trường hợp chậm triển khai; ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin và tăng cường sự giám sát của người dân trong công tác quản lý trật tự xây dựng.

3.5. Thực hiện tốt công tác cung cấp nước sạch cho người dân

Đảm bảo nước sạch cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất - kinh doanh. Quy hoạch cấp nước thành phố đến năm 2040 và tầm nhìn đến năm 2060; xây dựng hệ thống hồ điều tiết, hồ dự trữ nước thô và các bể chứa nước sạch tại các nhà máy nước; xây dựng phương án xử lý tình huống ảnh hưởng tác động của biến đổi khí hậu, đảm bảo an ninh nguồn nước.

3.6. Phát triển giao thông, giảm ùn tắc và giảm tai nạn giao thông

Xây dựng và triển khai đồng bộ các giải pháp mạnh mẽ để khởi công hệ thống đường vành đại 3 và 4, hoàn thành đường vành đai 2. Tập trung xây dựng cơ chế, chính sách huy động tối đa các nguồn lực, đầu tư các công trình giao thông trọng điểm153, trong đó, chú trọng đầu tư, phát triển giao thông liên vùng, khai thác hiệu quả giao thông đường thủy, phát triển đường sắt đô thị, phát triển đô thị cảng Hiệp Phước, các đường vành đai154. Thực hiện quản lý điều hành giao thông thông minh toàn thành phố.

Quy hoạch, xây dựng, chỉnh trang đô thị theo định hướng phát triển giao thông công cộng (TOD). Xây dựng những giải pháp mang tính chất đột phá nhằm nâng cao chất lượng vận tải hành khách công cộng, kiểm soát sử dụng phương tiện cơ giới cá nhân155, có lộ trình tăng tỷ lệ xe ô tô điện toàn thành phố.

3.7. Xây dựng thành phố thông minh và xã hội số

Triển khai đảm bảo tiến độ Đề án xây dựng đô thị thông minh đồng bộ với phát triển kinh tế số và xã hội số; đưa vào khai thác, vận hành có hiệu quả Kho dữ liệu dùng chung; đầu tư hoàn thiện Trung tâm điều hành thông minh và Trung tâm dự báo thuộc Đề án. Cơ bản hoàn thành chuyển đổi dữ liệu số của toàn thành phố trước năm 2025. Sử dụng công nghệ dữ liệu lớn để hiện đại hóa, giảm chi phí và tăng chất lượng, khả năng dự báo trong các lĩnh vực trọng yếu. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) vào triển khai Đô thị thông minh, đô thị sáng tạo, xã hội số tại Thành phố Hồ Chí Minh. Thí điểm ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học về AI tại các trường đại học, viện nghiên cứu vào thực tế sản xuất và xã hội.

4. Đảm bảo quốc phòng - an ninh và trật tự an toàn xã hội 

Giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội, môi trường hòa bình, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của thành phố; thực hiện tốt chủ trương kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng - an ninh, quốc phòng - an ninh với kinh tế; tăng cường lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; xử lý có hiệu quả các nhân tố ảnh hưởng đến an ninh chính trị (tôn giáo, dân tộc, khiếu kiện, đình công, tội phạm,...), không để phát sinh điểm nóng trên địa bàn.

Xây dựng lực lượng vũ trang thành phố có bản lĩnh chính trị vững vàng, lực lượng quân sự, công an chủ lực được xây dựng chính quy, hiện đại; lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp; lực lượng dự bị động viên được xây dựng, quản lý chặt chẽ; xây dựng thành phố thành khu vực phòng thủ vững chắc, có thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững mạnh. Thường xuyên rà soát, bổ sung, hoàn thiện văn kiện tác chiến phòng thủ, các phương án, kế hoạch phòng chống gây rối, biểu tình, bạo loạn và khủng bố; xử lý kịp thời, hợp lý những vấn đề an ninh phi truyền thống; tổ chức diễn tập phòng thủ, phòng thủ dân sự kết hợp với diễn tập phòng chống biểu tình, bạo loạn, khủng bố sát với tình hình thực tế. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh trật tự; đấu tranh phòng chống, kiềm chế, kéo giảm các loại tội phạm; đảm bảo trật tự an toàn giao thông. Bảo vệ an toàn tuyệt đối các mục tiêu trọng điểm về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, các lễ hội, các sự kiện chính trị quan trọng, đảm bảo có sự tập trung thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp giữa các lực lượng.

Nâng cao chất lượng giáo dục quốc phòng - an ninh, huấn luyện quân sự, hội thao quốc phòng. Tiếp tục đầu tư ngân sách mua sắm các phương tiện, trang thiết bị hiện đại cho quốc phòng, an ninh nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ quản lý, bảo vệ an ninh chính trị và giữ gìn trật tự an toàn xã hội trên địa bàn thành phố. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy về chính trị tư tưởng, bảo vệ nội bộ, bảo vệ bí mật Nhà nước, nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

5. Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hợp tác quốc tế

Tiếp tục triển khai hiệu quả, đồng bộ các hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, thông tin đối ngoại, công tác người Việt Nam ở nước ngoài trên tinh thần chủ động và sáng tạo, phù hợp với đặc điểm và tình hình thành phố, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho sự phát triển toàn diện của thành phố. Phát huy tác dụng của không gian văn hóa Hồ Chí Minh trong hoạt động đối ngoại.

Xác lập quan hệ hợp tác quốc tế có trọng tâm, trọng điểm trong các lĩnh vực mà thành phố có nhu cầu với các địa phương nước ngoài, đặc biệt là các địa phương của những nước có quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam, góp phần thực hiện thành công các chương trình, đề án phát triển Thành phố Hồ Chí Minh156. Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền đối ngoại theo chiều sâu và theo ngành nhằm nâng cao hình ảnh và vị thế của thành phố157.

Tiếp tục phát huy hơn nữa vai trò của đối ngoại nhân dân và công tác người Việt Nam ở nước ngoài nhằm tranh thủ sự ủng hộ của các tầng lớp xã hội, cộng đồng quốc tế, phát huy hiệu quả nguồn kiều hối cho sự phát triển của thành phố.

6. Đổi mới quản lý Thành phố Hồ Chí Minh

Tiếp tục thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 54/2017/QH14 ngày 24 tháng 11 năm 2017 của Quốc hội giai đoạn 2017 - 2022, nghiên cứu đề xuất các cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố giai đoạn sau năm 2022158. Xây dựng đề án tổ chức Chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh và xây dựng thành phố phía Đông. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính với những giải pháp thiết thực, cụ thể, lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo đánh giá hiệu quả công tác cải cách hành chính.

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng chính quyền số, thiết kế đồng bộ, xây dựng và đưa vào vận hành hệ thống tích hợp, kết nối liên thông các cơ sở dữ liệu lớn, nhất là dữ liệu về dân cư, quy hoạch, y tế, giáo dục, bảo hiểm, doanh nghiệp, đất đai, nhà ở, phục vụ kịp thời, hiệu quả cho phát triển kinh tế - xã hội và đời sống Nhân dân. Thực hiện chuyển đổi số một cách toàn diện, phát triển kinh tế số, xây dựng xã hội số. 

Tăng cường sự tham gia của người dân và doanh nghiệp vào quá trình xây dựng chính sách và thể chế; đề cao vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, tạo sự thống nhất, đồng lòng chung tay xây dựng, bảo vệ và phát triển thành phố159; hình thành và phát huy các hội đồng phát triển các ngành kinh tế; phát huy vai trò Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố và Nhân dân giám sát Đảng và chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh; đổi mới, nâng cao hiệu quả tổ chức phong trào thi đua sáng tạo và các giải thưởng sáng tạo Thành phố Hồ Chí Minh.

IV. TĂNG CƯỜNG XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG, XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC DÂN VẬN, TĂNG CƯỜNG GẮN BÓ MẬT THIẾT GIỮA ĐẢNG VỚI NHÂN DÂN

1. Quan điểm, phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm

Xây dựng Đảng bộ thực sự vững mạnh, trong sạch. Nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện của Đảng bộ ngang tầm với nhiệm vụ và đòi hỏi của Đảng và Nhân dân thành phố. Kiên quyết, kiên trì thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, đấu tranh quyết liệt, ngăn chặn tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tự diễn biến và tham nhũng. Cán bộ, đảng viên phải là người tiên phong, tấm gương trong tuân thủ pháp luật, lao động sáng tạo, phục vụ nhân dân. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố và các tổ chức chính trị - xã hội giám sát, phản biện xã hội ngày một hiệu quả hơn hoạt động của Đảng và quản lý của Nhà nước, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân.

2. Nhiệm vụ, giải pháp

2.1. Về xây dựng Đảng

2.1.1. Về chính trị, tư tưởng, đạo đức

Nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ, tính chiến đấu của toàn Đảng bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu của từng đảng bộ, đến từng chi bộ cơ sở. Quan tâm, đẩy mạnh nghiên cứu, đúc kết thực tiễn, cung cấp kinh nghiệm, đóng góp lý luận, đề xuất Trung ương hoàn thiện đường lối, chính sách, nhất là chính sách đột phá, đặc thù.

Nghiên cứu triển khai giải pháp đột phá đổi mới công tác giáo dục lý luận chính trị, quán triệt, triển khai nghị quyết của Đảng; thực hiện công tác giám sát chặt chẽ; khắc phục tình trạng chỉ đạo, triển khai, tổ chức thực hiện nghị quyết là “khâu yếu”.

Nắm chắc và dự báo sát đúng tình hình tư tưởng, nghiên cứu dư luận và tâm trạng xã hội; kịp thời xử lý thông tin và định hướng tư tưởng, dư luận gắn với giải quyết tốt các vấn đề bức xúc của Nhân dân, các vấn đề nhạy cảm, phức tạp phát sinh, đảm bảo thống nhất tư tưởng trong Đảng và đồng thuận xã hội.

Quan tâm đầu tư, đổi mới công tác truyền thông, tuyên truyền; đầu tư phát triển, thực hiện có hiệu quả hoạt động của các cơ quan truyền thông, báo chí, xuất bản, văn hóa, nghệ thuật của thành phố.

Đầu tư xây dựng cơ chế, chính sách phát triển, phát huy đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ. Tiếp tục quan tâm thực chất công tác phát triển Đảng và đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị trong đội ngũ phóng viên, biên tập viên, đảm bảo sự phát triển của các cơ quan báo chí sau khi thực hiện Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí trên địa bàn thành phố.

Thực hiện hiệu quả Đề án tuyên truyền, lan tỏa thông tin tích cực, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thông tin xấu độc của các đối tượng suy thoái, thế lực thù địch, phản động trên mặt trận tư tưởng, trên internet, mạng xã hội.

Kiên quyết, kiên trì thực hiện hiệu quả hơn Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII. Thông qua xây dựng thành phố thành không gian văn hóa Hồ Chí Minh làm cho việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành nếp sống, đặc trưng văn hóa của đảng viên và Nhân dân thành phố. Kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí, lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, xử lý đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Thực hiện tốt quy định về nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu các cấp; thực hiện nghiêm cơ chế kiểm tra, giám sát của tổ chức cơ sở đảng, giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.

2.1.2. Về tổ chức, cán bộ và đảng viên

Tổ chức sắp xếp lại tổ chức đảng phù hợp với mô hình mới của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp và tổ chức dưới phường - xã, thị trấn; lãnh đạo thành công bầu cử Quốc hội khóa XV, bầu cử Hội đồng nhân dân thành phố và hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026.

Quán triệt và nghiêm túc thực hiện quan điểm Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và trực tiếp quản lý đội ngũ cán bộ; cụ thể hóa và thực hiện đúng các nguyên tắc, quy định về công tác cán bộ; tiếp tục phân công, phân cấp hợp lý, tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện công tác cán bộ. Thực hiện nghiêm việc lấy phiếu tín nhiệm; đổi mới nội dung, phương pháp đánh giá cán bộ; phát huy dân chủ, tính tự giác của cán bộ, trách nhiệm của tập thể cấp ủy và cá nhân người đứng đầu. Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức, năng lực tốt, gắn bó, hết lòng, hết sức phục vụ Nhân dân; chú trọng và tăng hơn nữa tỷ lệ cán bộ lãnh đạo, cấp ủy là nữ, cán bộ trẻ tuổi, cán bộ xuất thân từ công nhân.

Nâng cao chất lượng tuyển dụng công chức, viên chức. Xây dựng và thực hiện tốt các bước tiếp theo sau quy hoạch cán bộ; nâng cao hiệu quả thực hiện các chương trình tạo nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý của thành phố; tiếp tục nghiên cứu, bổ sung chính sách thu hút, sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao, lực lượng trí thức trẻ tuổi có trình độ thạc sĩ trở lên; nghiên cứu, thực hiện thi tuyển một số chức danh quản lý ở cấp sở - ngành, quận - huyện và cơ quan tương đương; thực hiện cơ chế tuyển chọn cán bộ đủ tiêu chuẩn chức danh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. 

Tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm quy định của Bộ Chính trị “Một số vấn đề bảo vệ chính trị nội bộ Đảng”; gắn công tác bảo vệ chính trị nội bộ với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn những hiện tượng cục bộ, bè phái, gây mất đoàn kết trong Đảng; tập trung nắm tình hình và giải quyết đúng đắn, hiệu quả vấn đề chính trị hiện nay, nhất là vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Tập trung củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đảng viên; đẩy mạnh và nâng cao hơn nữa hiệu quả xây dựng và chất lượng hoạt động của tổ chức đảng, đoàn thể chính trị - xã hội trong doanh nghiệp ngoài khu vực Nhà nước, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập. Chấn chỉnh, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt cấp ủy; thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, nhất là tự phê bình và phê bình. Đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên, đảm bảo chất lượng đảng viên mới kết nạp, nhất là trong lực lượng vũ trang, giảng viên, giáo viên, sinh viên, phóng viên, biên tập viên, nông dân, công nhân và tại địa bàn dân cư, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập. Đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý đảng viên; thường xuyên rà soát, sàng lọc, kiên quyết, kịp thời đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng.

2.1.3. Đổi mới mạnh mẽ, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng

Cấp ủy các cấp lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát, đảm bảo khoa học, tránh chồng chéo, trùng lắp. Nâng cao nhận thức và xác định trách nhiệm của cấp ủy, bí thư cấp ủy trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Quyết liệt chỉ đạo thực hiện có hiệu quả Quy định số 1374-QĐ/TU của Ban Thường vụ Thành ủy. 

Tiếp tục đổi mới phương pháp, kỹ năng, quy trình nghiệp vụ công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những địa bàn, lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, sai phạm, nhất là trên một số lĩnh vực quản lý Nhà nước có sự tiếp xúc giữa người dân, doanh nghiệp và cán bộ, công chức thực thi công vụ; coi trọng giám sát theo chuyên đề. Quan tâm kiểm tra, giám sát các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy trong việc chấp hành Quy chế làm việc, việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Đẩy mạnh việc tự kiểm tra, phát hiện và xử lý các vi phạm của cấp ủy, tổ chức đảng; tập trung kiểm tra, giám sát việc khắc phục các khuyết điểm sau kiểm tra, giám sát. 

Chủ động phát hiện sớm, ngăn ngừa các vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu. Kiên quyết xem xét, xử lý các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm và công khai kết quả xử lý. Chú trọng đúc kết những kinh nghiệm, cách làm có hiệu quả để nhân rộng. Tăng cường cảnh báo những lĩnh vực, hành vi vi phạm thường xảy ra tại Đảng bộ thành phố để có giải pháp đấu tranh, phòng ngừa.

Phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị tham gia giám sát hoạt động cấp ủy, chính quyền các cấp; nâng cao chất lượng phối hợp giữa ủy ban kiểm tra cấp ủy với tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng.

2.1.4. Nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí 

Kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động và chú trọng kiểm tra, giám sát đối với các cơ quan có chức năng phòng, chống tham nhũng.

Nâng cao trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu trong việc chủ động phòng ngừa, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Xử lý nghiêm minh trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Nâng cao khả năng tự phát hiện, xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng, lãng phí của các cấp ủy, tổ chức đảng. Chú trọng thu hồi tài sản thất thoát trong các vụ án tham nhũng.

Tăng cường kiểm tra, kiểm soát quyền lực đối với người có chức vụ. Thực hiện nghiêm các quy định về kê khai, công khai tài sản, thu nhập. Tập trung kiểm tra, giám sát, thanh tra và đề nghị kiểm toán những địa bàn, lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, có nhiều đơn thư phản ánh, tố cáo. 

Phát huy vai trò giám sát của hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và cơ quan báo chí trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

2.1.5. Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của cấp ủy các cấp

Đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp ủy theo hướng: khẳng định sự chịu trách nhiệm toàn diện của cấp ủy trong việc lãnh đạo chính quyền thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy và chính quyền trong việc thực hiện nhiệm vụ của cấp ủy và chính quyền mỗi cấp; phát huy mạnh mẽ, hiệu quả vai trò giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, nâng cao tính khả thi của nghị quyết; tăng cường phân cấp, ủy quyền theo đúng quy định cho cấp ủy, tổ chức đảng. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền các cấp, nâng cao vai trò và chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và tính thiết thực của hội, đoàn.

Tập trung kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy chế làm việc của cấp ủy, tổ chức đảng, bảo đảm thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, mỗi tổ chức, cá nhân thực hiện đúng chức trách của mình.

Nâng cao chất lượng, hiệu quả đi cơ sở, tiếp xúc và lắng nghe ý kiến của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Thực hiện tốt quy chế chất vấn trong Đảng; tăng cường cải cách hành chính trong Đảng, ứng dụng công nghệ thông tin trong lãnh đạo, điều hành của thường trực cấp ủy và của các cơ quan tham mưu, giúp việc.

2.2. Về xây dựng chính quyền

Nâng cao vai trò và chất lượng hoạt động của hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước. Tăng cường sự gắn kết giữa giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân với kiểm tra, giám sát của Đảng, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và giám sát của Nhân dân. Tiến hành sắp xếp các đơn vị hành chính, các cơ quan chuyên môn, đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng tinh gọn. Xây dựng lộ trình để chuyển một số huyện thành quận giai đoạn 2020 - 2030. Lãnh đạo thực hiện Đề án tổ chức chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh sau khi được Quốc hội thông qua.

Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức giỏi về nghiệp vụ, gương mẫu, kiên quyết đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng. Đổi mới công tác đánh giá cán bộ, công chức, viên chức, gắn với phát huy năng lực cán bộ; nâng cao hiệu quả công tác tuyển chọn, đề bạt cán bộ lãnh đạo, quản lý theo hướng thi tuyển công khai, minh bạch, gắn với xu hướng trẻ hóa và hội nhập. Tiếp tục đẩy mạnh đào tạo, thu hút và trọng dụng nhân tài, vừa chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của thành phố.

Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo cấp ủy, chính quyền trong công tác cải cách hành chính, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội đối với công tác cải cách hành chính. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra công vụ; chủ động, kịp thời phát hiện và xử lý thật nghiêm các hành vi vi phạm. Phát huy cao nhất vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, hội đồng nhân dân các cấp, các báo chí, cấp trên giám sát cấp dưới, đặc biệt là của người dân thành phố đối với hoạt động của các cơ quan hành chính. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ người dân và doanh nghiệp, xây dựng đô thị thông minh, chính quyền số. Đẩy mạnh việc giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường mạng, cắt giảm mạnh các thành phần hồ sơ thủ tục và thời gian không cần thiết, phấn đấu sự hài lòng của cá nhân, tổ chức kết nối dịch vụ công của các cơ quan Nhà nước từ 90% trở lên.

Huy động cả hệ thống chính trị để xử lý các vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người trên địa bàn thành phố. Chú trọng công tác dân vận của chính quyền, công tác hòa giải ở cơ sở.

Tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách tư pháp, chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin. Củng cố, kiện toàn tổ chức, bộ máy, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp trong sạch, vững mạnh, có bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thông nghiệp vụ và am hiểu về các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nâng cao chất lượng công tác xây dựng thể chế trong lĩnh vực xây dựng chính quyền, tổ chức theo dõi thi hành pháp luật gắn với việc triển khai thi hành pháp luật trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước trên địa bàn. Nâng cao chất lượng hoạt động của Hội Luật gia, Đoàn Luật sư và các hoạt động bổ trợ tư pháp. 

3. Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác dân vận, tăng cường gắn bó mật thiết giữa Đảng với Nhân dân 

- Công tác dân vận phải tập hợp và phát huy sức mạnh tổng hợp của Nhân dân thành phố tham gia phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng - an ninh

Thường xuyên quán triệt, phổ biến các văn bản của Trung ương, Thành ủy về công tác dân vận, công tác dân tộc, tôn giáo, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa trong nhận thức, hành động về công tác dân vận trong hệ thống chính trị và Nhân dân, nhất là của các cấp ủy, chính quyền và người đứng đầu các cấp.

Tập hợp rộng rãi các tầng lớp Nhân dân, huy động sự tham gia của Nhân dân, tạo sự đồng thuận của xã hội trong thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tăng cường xây dựng và phát huy vai trò lực lượng chính trị nòng cốt, cốt cán trong tôn giáo, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số và các lĩnh vực chuyên sâu của đời sống xã hội.

Vận động đồng bào dân tộc, tôn giáo tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

- Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận của hệ thống chính trị

Cấp ủy các cấp quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân vận của hệ thống chính trị, nhất là công tác dân vận của chính quyền, bám sát thực tiễn tình hình địa phương, những vấn đề mà người dân quan tâm, bức xúc; phải đặt lợi ích của Nhân dân lên trên hết khi tham mưu cấp ủy chỉ đạo giải quyết vấn đề phát sinh.

Tăng cường đi cơ sở, thường xuyên tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng, sáng kiến, kiến nghị của Nhân dân; tăng cường công tác nắm bắt tình hình, nắm chắc và dự báo sát, đúng tình hình Nhân dân để có những giải pháp tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc.

Cần đặc biệt quan tâm vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên và người đứng đầu trong thực hiện công tác dân vận, nhất là công tác dân vận của chính quyền; Công tác dân vận của từng địa phương, cơ quan, đơn vị phải gắn với lãnh đạo thực hiện có hiệu quả công tác hòa giải tại cơ sở.

Gắn kết chặt chẽ giữa phong trào thi đua “Dân vận khéo”, nhất là kế hoạch thực hiện nội dung 5 không: “Không để người nghèo, người yếu thế tụt hậu, bị bỏ quên”, “Không gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp”, “Không xả rác bừa bãi ra đường phố và kênh rạch”, “Không vi phạm Luật Giao thông đường bộ” và “Không tụ tập gây rối, ảnh hưởng an ninh chính trị, trật tự an toàn nơi cư trú và trên đường phố” với các phong trào thi đua yêu nước khác do thành phố và các địa phương phát động.

- Công tác dân vận của các cơ quan Nhà nước, chính quyền các cấp

Thực hiện nghiêm các quy định của Nhà nước về phát huy dân chủ ở cơ sở, tập trung cải cách thủ tục hành chính trong nội bộ cơ quan Nhà nước, tổ chức sự nghiệp công lập, dịch vụ công và các thủ tục hành chính liên thông giữa các cơ quan hành chính Nhà nước các cấp. Xây dựng hình ảnh cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng công an, quân sự gương mẫu, năng động, trách nhiệm, thân thiện, phục vụ Nhân dân, nhất là người đứng đầu; đề cao ý thức tiếp dân, đối thoại, nghiêm túc thực hiện thư cảm ơn, thư xin lỗi.

Tăng cường kỷ luật, kỷ cương công vụ, kiểm tra, chấn chỉnh thái độ tiếp xúc, trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng công an, quân sự trong thực thi công vụ; kiên quyết xử lý những cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước, lực lượng công an, quân sự quan liêu, nhũng nhiễu và năng lực, phẩm chất kém.

Đẩy mạnh hoạt động các phong trào thi đua yêu nước, hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”, từ thiện nhân đạo xã hội, chú trọng phong trào thi đua “Dân vận khéo” gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong các cơ quan Nhà nước, chính quyền các cấp, phát huy tiềm năng, trí tuệ, hiến kế xây dựng và bảo vệ thành phố. 

- Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận của hệ thống chính trị

Thực hiện luân chuyển cán bộ làm công tác Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội sang công tác Đảng, công tác chính quyền và ngược lại. Nghiên cứu điều chỉnh, bổ sung các chính sách chăm lo đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội.

Tổ chức đào tạo chuyên sâu cho 100 - 200 cán bộ chuyên trách làm công tác dân vận, dân tộc, tôn giáo ở hai trình độ cử nhân và sau đại học; hàng năm thực hiện bồi dưỡng, tập huấn về công tác dân vận, dân tộc, tôn giáo cho đội ngũ cán bộ đương chức.

- Mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại nhân dân

Phát huy vai trò của thân nhân và người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp có hiệu quả vào các hoạt động đoàn kết, hữu nghị, thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác, hướng về quê hương xây dựng đất nước, thành phố; tích cực quan tâm, giải quyết các kiến nghị, nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của kiều bào.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố và các tổ chức thành viên tiếp tục mở rộng các hoạt động giao lưu, trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm, ủng hộ và giúp đỡ lẫn nhau với tổ chức nhân dân các nước bạn. 

4. Nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc thành phố và các tổ chức chính trị - xã hội thành phố

Nâng cao chất lượng tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị - xã hội, hội quần chúng 

Tiếp tục đổi mới nội dung hoạt động theo hướng thiết thực và đi sâu vào từng đối tượng cụ thể; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân; chú trọng công tác nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp Nhân dân, đoàn viên, hội viên, đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo, công nhân các khu chế xuất, khu công nghiệp, người lao động tự do đang làm việc dựa trên các ứng dụng công nghệ và quan tâm công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài. 

Phát huy vai trò, sự năng động, sáng tạo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố và các tổ chức chính trị - xã hội thành phố trong việc xây dựng và phát huy không gian văn hóa Hồ Chí Minh để giáo dục lòng yêu nước, đạo đức, ý chí và nhân cách của công dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trong các tầng lớp Nhân dân ở khu dân cư; tăng cường hoạt động giám sát, phản biện xã hội, các hình thức tiếp xúc, đối thoại của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp với các tầng lớp Nhân dân; củng cố hoạt động hòa giải tại cơ sở; rà soát, sửa đổi, bổ sung quy chế phối hợp công tác giữa Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội với chính quyền cùng cấp.

4.1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố: Phát huy hệ thống Mặt trận Tổ quốc thành phố cùng các tổ chức thành viên xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân; vận động tập hợp Nhân dân, tăng cường sự đồng thuận, thắt chặt mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Đề ra các giải pháp hiệu quả, thiết thực, tạo sự chuyển biến thực sự trong đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; hướng về cơ sở, kịp thời nắm tình hình nhân dân, phát huy dân chủ, tích cực vận động Nhân dân thành phố tham gia các phong trào, các cuộc vận động, thúc đẩy phong trào thi đua yêu nước, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của thành phố. Chủ trì, phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện giám sát tổ chức đảng, đảng viên và hoạt động của chính quyền các cấp, góp phần xây dựng Đảng, chính quyền vững mạnh; tăng cường thực hiện phản biện xã hội đối với 4 chương trình phát triển thành phố.

4.2. Liên đoàn Lao động thành phố: Tích cực, chủ động bồi dưỡng, nâng cao lòng yêu nước, bản lĩnh chính trị, ý thức giai cấp, nhận thức pháp luật, trình độ học vấn, tay nghề và chăm lo cải thiện đời sống công nhân, người lao động. Xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong tình hình mới; chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn và xây dựng giai cấp công nhân thành phố ngày càng lớn mạnh, thích ứng với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới.

4.3. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh thành phố: Quan tâm chăm lo, tạo điều kiện tốt nhất để thanh niên trau dồi lý tưởng cách mạng, nâng cao nhận thức chính trị, rèn luyện đạo đức, học tập, lao động, xây dựng lối sống lành mạnh. Khơi dậy, phát huy khả năng sáng tạo, tinh thần xung kích, tình nguyện của thanh niên trong tổ chức các phong trào hành động cách mạng, phong trào thi đua yêu nước đóng góp cho sự phát triển của thành phố. Đẩy mạnh công tác bảo vệ, giáo dục, chăm sóc thiếu nhi. Mở rộng mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên, xây dựng đội ngũ cán bộ Đoàn - Hội - Đội vững mạnh, đáp ứng yêu cầu công tác Đoàn trong tình hình mới. Quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn kết nạp đảng viên mới, nguồn cán bộ trẻ cho thành phố. 

4.4. Hội Nông dân thành phố: Phát huy vai trò của Hội Nông dân trong xây dựng nông thôn mới, hỗ trợ nông dân ứng dụng khoa học - công nghệ, tiên phong thực hiện mô hình sản xuất nông nghiệp đô thị công nghệ cao, nâng cao chất lượng cuộc sống của nông dân.

4.5. Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố: Tăng cường xây dựng tổ chức, tiếp tục thực hiện có hiệu quả các phong trào, cuộc vận động, tham gia thực hiện các mục tiêu bình đẳng giới; chăm lo đời sống vật chất, văn hóa tinh thần cho phụ nữ. Phát huy vai trò của phụ nữ trong lao động, học tập, hoạt động xã hội và chăm lo xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc.

4.6. Hội Cựu Chiến binh thành phố: Tiếp tục phát huy phong trào thi đua “Cựu chiến binh gương mẫu”, tăng cường giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ, tích cực tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng, chính quyền và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; quan tâm chăm lo đời sống cho hội viên cựu chiến binh.

4.7. Tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho các hội thành viên của Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố xây dựng tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; tăng cường nguồn lực đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, khuyến khích thực hiện các hoạt động tư vấn, phản biện, giám định xã hội, phát huy sáng tạo trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu sự phát triển toàn diện của thành phố.

4.8. Tăng cường quản lý Nhà nước về tổ chức và hoạt động của Hội quần chúng, tạo điều kiện để phát huy tinh thần tự nguyện, tự quản, tự đảm bảo kinh phí, tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

PHẦN THỨ BA

BỐN CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2020 - 2025/2030

Để thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển thành phố giai đoạn 2020 - 2025, định hướng đến năm 2030 và 24 chỉ tiêu phát triển chủ yếu nhiệm kỳ 2020 - 2025, thực hiện chức năng lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò làm chủ của Nhân dân trong cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng bộ thành phố xây dựng và thực hiện 3 Chương trình đột phá và 1 Chương trình trọng điểm phát triển thành phố sau đây:

I. CHƯƠNG TRÌNH ĐỘT PHÁ ĐỔI MỚI QUẢN LÝ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 

* Mục tiêu chương trình

Chủ động xây dựng, kiên trì kiến nghị, triển khai các cơ chế, chính sách quản lý thành phố phù hợp tính chất đô thị đặc biệt, đầu tàu về nhiều mặt của cả nước; đề xuất tỷ lệ điều tiết cho ngân sách thành phố phù hợp nhu cầu và phát huy các nguồn lực, đóng góp nhiều hơn vào tăng trưởng và ngân sách chung của cả nước; phát huy hiệu quả các cơ chế, chính sách để thành phố phát triển nhanh và bền vững dựa trên nền tảng khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo; chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 gắn với hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; thực hiện nhanh chuyển đổi số, hoàn thiện chính quyền số, xây dựng thành phố trở thành thành phố thông minh. 

Nâng cao hiệu quả cải cách hành chính, đột phá về thể chế, thủ tục hành chính và tài chính công, nâng cao chất lượng quản trị công; đề xuất không tổ chức Hội đồng nhân dân ở quận, phường, sắp xếp các đơn vị sự nghiệp công lập nhằm đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; chuyển một số huyện thành quận, hình thành và phát triển Khu đô thị sáng tạo tương tác cao phía Đông gắn với thành lập thành phố Thủ Đức thuộc Thành phố Hồ Chí Minh, tạo động lực mới cho sự phát triển.

Khơi dậy tiềm năng, niềm tự hào của các tầng lớp Nhân dân thành phố tham gia tích cực các phong trào hành động cách mạng, thi đua sáng tạo xây dựng, bảo vệ và phát triển thành phố. Hình thành và phát huy các hội đồng phát triển các ngành kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh, chất lượng tăng trưởng. Xây dựng, triển khai thực hiện tốt mối quan hệ với các địa phương trọng điểm thuộc các nước là đối tác chiến lược của Việt Nam nhằm phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế nhanh và bền vững. Tăng cường sự tham gia của người dân và doanh nghiệp vào quá trình xây dựng chính sách và thể chế; đề cao vai trò giám sát, phản biện xã hội, tạo sự thống nhất, đồng lòng chung tay xây dựng, bảo vệ và phát triển thành phố.

* Các nội dung chương trình cụ thể, bao gồm:

1. Đề án điều chỉnh tỷ lệ điều tiết ngân sách cho thành phố giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn 2026 - 2030 để tăng thu ngân sách Trung ương và tạo tiền đề để Thành phố phát triển nhanh, bền vững.

2. Đề án tổ chức chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Đề án thành lập thành phố Thủ Đức thuộc Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Đề án chuyển một số huyện thành quận giai đoạn 2021 - 2030.

5. Đề án xây dựng thành phố thông minh giai đoạn 2017 - 2025.

6. Chương trình chuyển đổi số của Thành phố Hồ Chí Minh.

7. Đề án hình thành và phát triển Khu đô thị sáng tạo tương tác cao phía Đông thành phố giai đoạn 2020 - 2035.

8. Đề án hình thành và phát huy các Hội đồng phát triển các ngành kinh tế giai đoạn 2020 - 2025.

9. Đề án quản lý đất đai và phương hướng sử dụng đất đai hiệu quả trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

10. Đề án thúc đẩy quan hệ giữa Thành phố Hồ Chí Minh với các địa phương trọng điểm thuộc các nước là đối tác chiến lược của Việt Nam, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế nhanh và bền vững của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2020 - 2025.

11. Đề án Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Nhân dân giám sát Đảng và chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2020 - 2025.

12. Đề án tổ chức Phong trào thi đua sáng tạo và các giải thưởng sáng tạo Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2020 - 2030.

13. Chương trình cải cách hành chính, nâng cao chỉ số cải cách hành chính (PAR Index) và Chương trình nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), cải thiện môi trường kinh doanh, môi trường đầu tư của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2020 - 2025.

14. Đề án thành lập Trung tâm hợp tác kinh tế, du lịch và văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh ở Saint-Petersburg (Liên bang Nga) năm 2020.

II. CHƯƠNG TRÌNH ĐỘT PHÁ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

* Mục tiêu chương trình

Phát triển đồng bộ và hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng, tạo môi trường, điều kiện tốt để phát triển kinh tế - xã hội, mở rộng không gian phát triển, kết nối các địa phương trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam gắn với bố trí, cơ cấu lại sản xuất và phân bố dân cư.

Đầu tư phát triển hạ tầng viễn thông, hạ tầng số. Chú trọng phát triển hạ tầng dịch vụ thông qua gắn kết, phát huy hiệu quả quy hoạch và huy động tốt các nguồn lực (tài chính, công nghệ, đất đai,...) đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành dịch vụ tương xứng với vai trò, vị trí là ngành mũi nhọn phát triển chiến lược của thành phố. Tập trung phát triển hạ tầng công nghiệp trên cơ sở tiếp tục phát huy các khu công nghệ cao, khu chế xuất, khu công nghiệp, Chuỗi Công viên Phần mềm Quang Trung và mạng lưới các trung tâm khởi nghiệp sáng tạo, hình thành khu công nghiệp mới có chất lượng và tính cạnh tranh cao, phù hợp với các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao và hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. 

Quan tâm phát triển, đảm bảo nhà ở cho người dân trên địa bàn với mức tăng trung bình 1 triệu dân qua 5 năm. Đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng giao thông, phát triển mạnh ngành logistics; giải quyết hiệu quả các vấn đề cấp bách đặt ra: giảm ùn tắc giao thông, chống ngập, giảm ô nhiễm môi trường, xử lý nước thải, chất thải rắn, cung cấp và vận động 100% người dân thành phố sử dụng nước sạch, phát triển cây xanh, hệ thống chiếu sáng đô thị,... đáp ứng và phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu của người dân thành phố. Quy hoạch và phát triển kè bờ sông Sài Gòn và sông, kênh nội thành nhằm phát huy tiềm năng, lợi thế về tự nhiên, cảnh quan và môi trường sông, kênh rạch phục vụ phát triển kinh tế - xã hội thành phố.

* Các nội dung chương trình cụ thể, bao gồm:

1. Đề án phát triển kết cấu hạ tầng giao thông trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2020 - 2030.

2. Đề án phát triển ngành logistics trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

3. Đề án chống ngập và xử lý nước thải Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2020 - 2045 và kế hoạch chống ngập và xử lý nước thải giai đoạn 2020 - 2030.

4. Đồ án quy hoạch xử lý chất thải rắn Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050.

5. Đề án phát triển hạ tầng dịch vụ Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2020 - 2025, định hướng đến năm 2040.

6. Đề án phát triển hạ tầng công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh 2020 - 2045 và kế hoạch triển khai giai đoạn 2020 - 2025 (Khu công nghệ cao, các Khu công nghiệp, Khu Công viên Phần mềm Quang Trung, mạng lưới các trung tâm khởi nghiệp sáng tạo).

7. Đề án phát triển hạ tầng viễn thông và Kế hoạch phát triển hạ tầng số Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2020 - 2030.

8. Đề án phát triển kè bờ sông và kinh tế dịch vụ ven sông giai đoạn 2020 - 2045 và kế hoạch triển khai giai đoạn 2020 - 2025.

9. Chương trình phát triển nhà ở Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2021 - 2030.

10. Chương trình phát triển công viên cây xanh công cộng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2020 - 2030.

11. Chương trình phát triển hệ thống chiếu sáng đô thị Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2020 - 2030.

12. Đề án phát triển hệ thống cấp nước thành phố giai đoạn 2020 - 2050 và Chương trình cung cấp nước sạch và chấm dứt khai thác nước ngầm Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2020 - 2030.

13. Chương trình giảm ô nhiễm môi trường giai đoạn 2020 - 2030.

III. CHƯƠNG TRÌNH ĐỘT PHÁ PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC VÀ VĂN HÓA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 

* Mục tiêu chương trình

Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, đào tạo đạt trình độ quốc tế ở 8 lĩnh vực (công nghệ thông tin - truyền thông; cơ khí - tự động hóa; trí tuệ nhân tạo; quản trị doanh nghiệp; tài chính - ngân hàng; y tế; du lịch; quản lý đô thị); khuyến khích đại học chia sẻ, phát triển giáo dục thông minh, tạo điều kiện tiếp cận và lĩnh hội hệ thống tri thức gắn với các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới; đẩy mạnh phong trào học tập suốt đời.

Phát triển ứng dụng trí tuệ nhân tạo, chuyển tiềm năng trí tuệ của nguồn nhân lực thành những thành quả ứng dụng và sáng tạo khoa học công nghệ, phục vụ hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế. Phát triển hệ thống y tế toàn diện, ứng dụng công nghệ để phát triển mạnh mẽ y tế thông minh, tiếp tục quan tâm đảm bảo y tế cộng đồng, đáp ứng tốt yêu cầu chăm lo sức khỏe Nhân dân.

Quan tâm đầu tư phát triển các hoạt động thể dục thể thao, nâng cao trình độ thể thao thành tích cao và đáp ứng nhu cầu thể dục thể thao nâng cao thể lực trong cộng đồng. Phát triển các ngành, lĩnh vực văn hóa thật sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, một động lực để phát triển kinh tế. Củng cố các thiết chế lễ hội, nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa thường niên; phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp, chú trọng văn hóa gia đình, xây dựng gia đình hạnh phúc; đảm bảo phát triển văn hóa - xã hội hài hòa với phát triển kinh tế, mọi người dân đều được thụ hưởng các giá trị tốt đẹp của đời sống văn hóa - xã hội.

* Các nội dung chương trình cụ thể, bao gồm:

1. Đề án đào tạo nhân lực trình độ quốc tế ở 8 ngành (công nghệ thông tin - truyền thông; cơ khí - tự động hóa; trí tuệ nhân tạo; quản trị doanh nghiệp; tài chính - ngân hàng; y tế; du lịch; quản lý đô thị) giai đoạn 2020 - 2035 và đại học chia sẻ.

2. Đề án giáo dục thông minh và học tập suốt đời giai đoạn 2020 - 2030.

3. Đề án y tế thông minh giai đoạn 2021 - 2025 và tầm nhìn 2030.

4. Đề án phát triển y tế cộng đồng, thực hiện bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe người dân tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2021 - 2030.

5. Chương trình nghiên cứu và phát triển ứng dụng trí tuệ nhân tạo giai đoạn 2020 - 2030.

6. Đề án nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống ma túy trên địa bàn thành phố giai đoạn 2020 - 2030.

7. Đề án hỗ trợ phát triển tài năng trẻ và lãnh đạo tương lai của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2020 - 2035.

8. Chiến lược phát triển ngành Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2035.

9. Đề án phát triển Ngành Thể dục Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2035.

10. Đề án Nghiên cứu xây dựng tiêu chí đánh giá gia đình hạnh phúc ở Thành phố Hồ Chí Minh.

11. Đề án tổ chức lễ hội và sự kiện Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn từ năm 2020 - 2030.

IV. CHƯƠNG TRÌNH TRỌNG ĐIỂM PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP, KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO VÀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM CHỦ LỰC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

* Mục tiêu chương trình

Phát huy truyền thống đoàn kết, năng động, sáng tạo, thành phố là địa phương đi đầu trong việc tận dụng các cơ hội của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, xây dựng thành phố thông minh, làm nền tảng phát triển kinh tế hiện đại; tiếp tục là đầu tàu kinh tế quan trọng của cả nước, là trung tâm về kinh tế, tài chính, thương mại, khoa học - công nghệ của khu vực Đông Nam Á.

Tập trung phát triển thành phố trở thành Trung tâm tài chính của khu vực và quốc tế. Nghiên cứu và triển khai các chính sách hỗ trợ kinh tế chia sẻ, kinh tế số và kinh tế tuần hoàn; phát triển du lịch thông minh, phát huy tiềm năng du lịch nội địa, liên kết phát triển du lịch thành phố với các tỉnh, thành Đồng bằng sông Cửu Long và các địa phương trên cả nước.

Đồng hành và tích cực hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, nâng cao hiệu quả hợp tác các ngân hàng, tổ chức tài chính và Nhà nước để hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp khởi nghiệp và phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; chú trọng phát triển sản phẩm và thương hiệu sản phẩm, nâng cao tỉ lệ cung ứng sản phẩm đặc trưng của thành phố trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Trong đó, tập trung vào các ngành công nghiệp thế mạnh, trọng yếu và có giá trị gia tăng cao, đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế thành phố, như: công nghệ thông tin - truyền thông, cơ khí - tự động hóa, chế biến thực phẩm, công nghiệp dược, nhựa, cao su,... Phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học, hình thành trung tâm sản xuất và cung ứng giống cây, giống con chất lượng cao cho khu vực và cả nước.

* Các nội dung chương trình cụ thể, bao gồm:

1. Chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp và sản phẩm công nghệ thông tin - truyền thông giai đoạn 2020 - 2030.

2. Chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp và sản phẩm cơ khí - tự động hóa giai đoạn 2020 - 2030.

3. Chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp và sản phẩm ngành chế biến thực phẩm giai đoạn 2020 - 2030.

4. Đề án phát triển công nghiệp dược trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2020 - 2025 tầm nhìn 2030.

5. Chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp sản phẩm nhựa, cao su giai đoạn 2020 - 2030.

6. Chương trình phát triển giống cây, con và nông nghiệp công nghệ cao giai đoạn 2020 - 2030.

7. Triển khai thực hiện Đề án du lịch thông minh giai đoạn 2020 - 2030.

8. Chương trình liên kết phát triển du lịch Thành phố Hồ Chí Minh và 13 tỉnh thành Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2020 - 2030.

9. Đề án phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm tài chính khu vực và quốc tế.

10. Diễn đàn kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh và các triển lãm công nghiệp, dịch vụ 4.0 giai đoạn 2020 - 2030.

11. Chính sách hỗ trợ kinh tế chia sẻ, kinh tế số và kinh tế tuần hoàn giai đoạn 2020 - 2025.

12. Chương trình kết nối các ngân hàng, tổ chức tài chính và Nhà nước để hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố giai đoạn năm 2020 - 2025.

13. Đề án hỗ trợ phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2020 - 2025.

*    *    *

Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ XI nhận thức sâu sắc trách nhiệm đối với Nhân dân thành phố và Nhân dân cả nước, với truyền thống yêu nước, cách mạng, đoàn kết, năng động, sáng tạo, Đảng bộ thành phố quyết tâm khắc phục yếu kém, khuyết điểm, nắm chắc thời cơ, vượt qua thử thách, đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp đổi mới, phấn đấu hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ XI đề ra, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, xứng đáng với thành phố mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh - thành phố Anh hùng.

BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHÓA X

 


BẢNG PHỤ CHÚ

Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025

1Theo kết quả rà soát lại của ngành Thống kê: giai đoạn 2011 - 2015 đạt 7,22%; năm 2016 tăng 7,31%; năm 2017 tăng 7,89%; năm 2018 tăng 7,86%; năm 2019 tăng 7,83%; năm 2020 ước tăng 1,32%. Dựa trên thực tế tình hình kinh tế, thành phố tính toán lại như sau: Năm 2016 tăng 8,2%; năm 2017 tăng 8,25%; năm 2018 tăng 8,3%; năm 2019 tăng 8,32%; bình quân 2016 - 2019 đạt 8,27%. Khu vực kinh tế nhà nước tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, tỷ trọng duy trì mức ổn định bình quân 13,9% trong cơ cấu kinh tế của thành phố, khu vực ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng  54,7%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 18,4%. Riêng tốc độ phát triển giá trị tăng thêm của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng bình quân 8,61%/năm, cao nhất trong các loại hình kinh tế.

TFP qua các năm: năm 2016 là 35,3%, năm 2017 là 36,7%, năm 2018 là 38,1%, năm 2019 là 40%, năm 2020 ước 42%; năng suất lao động năm 2016: 229,2 triệu đồng, năm 2017: 248,6 triệu đồng, năm 2018: 266,4 triệu đồng, năm 2019: 283,9 triệu đồng, bình quân 2016 - 2019 năng suất lao động bằng 2,65 lần cả nước; ước 2020: 307,3 triệu đồng. Tốc độ tăng năng suất lao động bình quân 2016 - 2020 là 5,17%/năm, cao hơn giai đoạn 2011 - 2015 là 4,42%/năm.

Hệ số ICOR bình quân giai đoạn 2016 - 2019 là 4,64, thấp hơn giai đoạn 2011 - 2015 là 4,76.

3 GRDP bình quân đầu người năm 2015 đạt 5.104 USD/người, 2016 đạt 5.413 USD/người, gấp 2,45 lần cả nước (cả nước là 2.202 USD/người); năm 2017 đạt 5.757 USD/người, gấp 2,43 lần cả nước (cả nước là 2.373 USD/người); năm 2018 đạt 6.129 USD/người, gấp 2,38 lần cả nước (cả nước là 2.570 USD/người), năm 2019 đạt 6.417 USD/người, gấp 2,37 lần cả nước (cả nước là 2.715 USD/người); ước năm 2020 là 6.328 USD/người, gấp 2,34 lần cả nước (cả nước là 2.708). 

4 Lao động ngành dịch vụ thành phố năm 2019 có 2,95 triệu người, chiếm 62,3% lực lượng lao động toàn thành phố và 15,21% lao động dịch vụ của cả nước. 

5 Năng suất lao động ngành dịch vụ tăng bình quân 5,8%/năm, cao hơn nhiệm kỳ trước (4,5%) và cao hơn mức tăng năng suất lao động của toàn thành phố 5,17%/năm.

Giá trị gia tăng ngành giáo dục - đào tạo thành phố 2016 - 2019 chiếm bình quân hơn 19% của toàn ngành, đứng đầu cả nước. Giá trị gia tăng ngành y tế thành phố chiếm bình quân hơn 23% của toàn ngành, đứng đầu cả nước. Giá trị gia tăng ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm thành phố chiếm bình quân hơn 33% toàn ngành, đứng đầu cả nước.

6 Hiện có 206 siêu thị, 49 trung tâm thương mại và 2.656 cửa hàng tiện lợi. So với năm 2015, thành phố đã phát triển thêm 19 siêu thị, 12 trung tâm thương mại và 1.822 cửa hàng tiện lợi. So với toàn hệ thống siêu thị trong nước, siêu thị thành phố chiếm tỷ trọng 75,24% (155/206 siêu thị), trung tâm thương mại trong nước chiếm 57,2% (28/49 trung tâm thương mại), chuỗi cửa hàng tiện lợi trong nước chiếm trên 76%.

7 Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng giai đoạn 2016 - 2019 đạt 3.864.742 tỷ đồng, tăng bình quân 12,2%/năm (theo giá thực tế), ước chung giai đoạn 2016 - 2020 ước đạt 4.624.040 tỷ đồng, gấp 1,2 lần giai đoạn 2011 - 2015, tăng bình quân 10,8% thấp hơn so với mức tăng trưởng của giai đoạn 2011 - 2015 (tăng 12,5%/năm).

8 Hiệp hội Thương mại Điện tử Việt Nam hàng năm chấm điểm (thang điểm 100) chỉ số thương mại điện tử các tỉnh, thành trên cả nước. Năm 2016: Thành phố Hồ Chí Minh đứng đầu với 73,3 điểm, Hà Nội thứ 2 với 72,0 điểm, Đà Nẵng thứ 3 với 62,3 điểm; năm 2017: Thành phố Hồ Chí Minh đứng đầu với 78,6 điểm, Hà Nội thứ 2 với 75,8 điểm, Đà Nẵng thứ 3 với 52,8 điểm; năm 2018: Thành phố Hồ Chí Minh đứng đầu với 82,1 điểm, Hà Nội thứ 2 với 79,8 điểm, Hải Phòng thứ 3 với 54,9 điểm; năm 2019: Thành phố Hồ Chí Minh đứng đầu với 86,8 điểm, Hà Nội thứ 2 với 84,3 điểm, Hải Phòng thứ 3 với 59,6 điểm.

9 Trong đó, khu vực đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng 63% kim ngạch xuất khẩu. Xuất khẩu ước 2020 tăng 5%. Cơ cấu hàng xuất khẩu chuyển dịch theo hướng sản phẩm chế biến tiếp tục được nâng lên, nhóm hàng công nghiệp chiếm 80,2% tổng kim ngạch xuất khẩu. Thị trường xuất khẩu đa dạng, không lệ thuộc một thị trường, một đối tác.

10 Năm 2019 đón 8,619 triệu du khách quốc tế, chiếm gần 50% tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt hơn 17%/năm (2016 - 2019), 32,77 triệu lượt khách du lịch nội địa, chiếm gần 1/3 lượng khách du lịch nội địa của cả nước với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 14% (2016 - 2019). Năm 2020 do ảnh hưởng nặng nề bởi tình hình dịch bệnh Covid-19, nên lượng khách quốc tế ước đạt 1,3 triệu lươt, giảm 85% so với năm 2019, lượng khách du lịch nội địa ước đạt 12,1 triệu lượt, giảm 63% so với năm 2019.

11 Năm 2016 tăng 7,33%, năm 2017 tăng 7,9%, năm 2018 tăng 7,98%, năm 2019 tăng 7,6%, năm 2020 ước giảm 2,8%. 

12 Năm 2016 tăng 11,65%, năm 2017 tăng 9,81%, năm 2018 tăng 8,5%, năm 2019 tăng 7,51% so với năm trước.

13 Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới thuộc 04 ngành công nghiệp trọng yếu tăng bình quân 17,3%/năm; 02 ngành công nghiệp truyền thống (dệt may, da giày) tăng 15,2%/năm.

14 Giá trị xuất khẩu của Khu Công nghệ cao giai đoạn 2016 - 2020 dự ước đạt khoảng 63,5 tỷ đô la Mỹ, tăng hơn 4,6 lần so với giai đoạn 2011 - 2015 đạt 13,78 tỷ đô la Mỹ. Công ty cổ phần công nghiệp hỗ trợ Phước Nguyên và Công ty cổ phần công nghiệp hỗ trợ Minh Nguyên đã tham gia được vào chuỗi sản phẩm của Samsung,… Đóng góp vào ngân sách Nhà nước của các doanh nghiệp Khu Công nghệ cao ngày càng tăng, giai đoạn năm 2011 - 2015 đạt 123,36 triệu USD, giai đoạn 2016 - 2019 đạt hơn 1 tỷ USD, tăng hơn 8,1 lần; dự kiến từ năm 2020, số thu ngân sách sẽ tăng cao do một số doanh nghiệp hết thời gian ưu đãi. 

15 Các công trình xây dựng đã đẩy mạnh ứng dụng vật liệu mới, sử dụng vật liệu xây không nung, tiết kiệm năng lượng, thiết bị thông minh, thân thiện môi trường,... góp phần phát triển ngành xây dựng theo hướng bền vững.

16 Mặc dù diện tích đất sản xuất nông nghiệp, số hộ nông, lâm, ngư nghiệp giảm: diện tích đất bình quân giảm khoảng 900ha/năm, số hộ giảm bình quân 6,38%/năm. Tuy nhiên, nhờ ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ sinh học, giống cây con chất lượng cao chuyển dịch sang các loại cây trồng vật nuôi có giá trị, hiệu quả kinh tế cao, chính sách hỗ trợ lãi vay đầu tư sản xuất nông nghiệp, thông qua việc phát triển các mô hình sản phẩm nông nghiệp chủ lực có lợi nhuận cao hơn các mô hình sản phẩm nông nghiệp truyền thống trên địa bàn thành phố. Nếu như trồng lúa truyền thống giá trị bình quân là 70 - 75 triệu đồng/ha/năm (3 vụ), lợi nhuận 18 - 20 triệu đồng; sản xuất lan Mokara: lợi nhuận khoảng 700 - 800 triệu đồng/ha/năm; lan Dendrobium: 1,2 - 1,4 tỷ đồng/ha/năm. Chăn nuôi bò sữa (12 con/hộ): 177 - 318 triệu đồng/hộ/năm. Tôm sú thâm canh lợi nhuận 525 triệu đồng/ha, bán thâm canh 245 triệu đồng/ha, tôm thẻ chân trắng 760 triệu đồng/ha,…

17 Năm 2019, số lao động trong nông nghiệp có 54.096 người, chiếm 1,29% lao động thành phố. Diện tích đất sản xuất nông nghiệp không bao gồm đất rừng là 113.634 ha, bằng 54,23% diện tích thành phố. Tỷ lệ đất sản xuất nông nghiệp thực tế (không bao gồm đất lâm nghiệp) so với đất sản xuất nông nghiệp theo quy hoạch là 46,1%. Quy mô nhóm sản phẩm chủ lực của ngành nông nghiệp thành phố ước khoảng 66% tổng giá trị sản xuất toàn ngành nông nghiệp thành phố năm 2019. Đã hình thành khu Nông nghiệp công nghệ cao, trung tâm Công nghệ sinh học, trại Trình diễn và thực nghiệm chăn nuôi bò sữa công nghệ cao hoạt động bước đầu có hiệu quả; có thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp lớn, nhất là các sản phẩm có giá trị và chất lượng cao từ sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; có khả năng về nguồn lực đầu tư của xã hội cho sản xuất nông nghiệp công nghệ cao.

18 Năng suất lao động khu vực nông nghiệp cao hơn nhiệm kỳ trước đạt 13,1% (cả nước đạt 13,11%/năm).

19 Ước năm 2020 tăng 2,68%.

20 Thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình tại các xã năm 2017 đạt 49,18 triệu đồng/người, tăng 23,8% so với năm 2015 là 39,72 triệu đồng/người; năm 2019 đạt 63,096 triệu đồng/người, tăng 58,85% so năm 2015.

21 Năm 2019 huy động vốn đạt 2.547 ngàn tỷ đồng, chiếm 29% của cả nước; tín dụng đạt 2.296 ngàn tỷ đồng chiếm 28% của cả nước, lớn nhất cả nước.

 22 Tín dụng duy trì tốc độ tăng trưởng và tăng trưởng ổn định trong suốt thời gian qua, giai đoạn 2016 - 2019 tốc độ tăng bình quân là 16,8%/năm (giai đoạn 2011 - 2015 là 11,8%/năm). Với quy mô dư nợ tín dụng cao đã góp phần quan trọng trong đầu tư và phát triển kinh tế thành phố, thông qua các hoạt động cho vay sản xuất - kinh doanh, hoạt động đầu tư; quy mô vốn tín dụng năm 2019 tăng gần gấp 2 lần so với năm 2015.

23 Đội ngũ các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản trong nước, cũng như nước ngoài, các đơn vị tư vấn, doanh nghiệp xây dựng, vật liệu xây dựng; hệ thống dịch vụ hỗ trợ cho thị trường bất động sản như các sàn giao dịch bất động sản, hệ thống thông tin bất động sản, công chứng, đăng ký sở hữu, hệ thống cung cấp dịch vụ tư vấn, môi giới, quản lý bất động sản tại thành phố ngày càng phát triển về quy mô và chất lượng cao hơn.

24 Giai đoạn 2016 đến nay, thị trường khoa học và công nghệ của thành phố đã thu hút và thúc đẩy đầu tư từ các doanh nghiệp, cho mục tiêu đổi mới công nghệ, nghiên cứu phát triển, hợp lý hóa sản xuất, đổi mới sáng tạo. Tổng đầu tư giai đoạn 2016 - 2019 (bao gồm ngân sách và ngoài ngân sách) cho khoa học và công nghệ là 43.908 tỷ đồng, ước năm 2020 ước đạt 6.800 tỷ đồng, đạt bình quân 10.142 tỷ đồng/năm, gấp 4,4 lần so với năm 2015. Ngoài ra, hoạt động khởi nghiệp sáng tạo giai đoạn 2016 - 2018 đã thu hút vốn đầu tư tăng nhanh đạt 1.386 triệu USD, gấp 2,6 lần so với giai đoạn 2011 - 2015 (540 triệu USD), trong đó, Thành phố Hồ Chí Minh chiếm hơn 70% tỷ lệ thu hút vốn đầu tư của hoạt động khởi nghiệp trong giai đoạn 2016 - 2018. Hàng năm, trung bình thành phố có khoảng 224 đơn đăng ký sáng chế và giải pháp hữu ích, trong đó số bằng độc quyền được cấp trung bình khoảng 75 bằng. Hoạt động thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu, chuyển giao công nghệ thời gian qua được thành phố quan tâm đẩy mạnh và đã mang lại tín hiệu tích cực; giai đoạn 2016 - 2019, giá trị mang lại từ việc thương mại hóa các sản phẩm nghiên cứu khoa học của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập và một số trường đại học thuộc khối kỹ thuật - công nghệ trên địa bàn thành phố ước đạt 1.690 tỷ đồng.

25 Thành phố đã thực hiện nhiều giải pháp để thúc đẩy, kết nối cung - cầu lao động thông qua tổ chức hiệu quả các phiên, sàn giao dịch việc làm, ngày hội việc làm, hỗ trợ người lao động tự tạo việc làm (khởi nghiệp), đi làm việc ở nước ngoài; kết quả thực hiện giai đoạn 2016 - 2018, các thành phần kinh tế trên địa bàn thành phố đã thu hút và giải quyết việc làm cho hơn 947.579 lượt lao động; số việc làm mới là 399.922 chỗ, đạt 64% so với chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ X đề ra; bình quân giải quyết việc làm hàng năm cho 315.859 lượt lao động/năm; tỷ lệ thất nghiệp đô thị giảm qua các năm, từ 5,1% năm 2010 xuống còn dưới 3,7% năm 2020 (năm 2016: 4,4%; năm 2017: 3,95%; năm 2018: 3,76%; năm 2019: 3,68%; năm 2020 ước đạt dưới 3,7%). Ngoài ra, thành phố chú trọng công tác dự báo nhu cầu lao động và phát triển mạng lưới thông tin thị trường lao động tại các đơn vị giới thiệu việc làm, cơ sở đào tạo, phường - xã, thị trấn và doanh nghiệp; giảm tỷ lệ thất nghiệp.

26 Theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 06 tháng 1 năm 2014 của Chính phủ về quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu (2011 - 2015) Thành phố Hồ Chí Minh: 

- Năm 2015, diện tích đất thành phố là 209.570 ha (chiếm 0,6% diện tích cả nước), được phân chia thành 03 nhóm: đất nông nghiệp là 95.297 ha (chiếm 45,48%), đất phi nông nghiệp là 113.938 ha (chiếm 54,37%) (trong đó, đất ở là 21.756 ha, đất phát triển khu công nghiệp và khu chế xuất là 5.393 ha; đất cụm công nghiệp 633 ha; đất khu công nghệ cao là 913 ha; đất xây dựng cơ sở hạ tầng 26.002 ha; trong đó đất giáo dục 2.501 ha, đất y tế 480 ha, đất văn hóa 2.073 ha,…) và đất chưa sử dụng là 335 ha (chiếm 0,15%). 

- Diện tích đất bình quân đầu người của thành phố là 233m2.

27 Tại Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19 tháng 6 năm 2018 của Chính phủ: Thành phố Hồ Chí Minh đã đề nghị và được Thủ tướng Chính phủ cho phép chuyển đổi 26.246 ha đất nông nghiệp thành đất ở, thương mại - dịch vụ, qua đó diện tích đất cho các lĩnh vực năm 2020 sẽ thay đổi như sau:

- Đất phi nông nghiệp là 118.890 ha (chiếm 57,38% diện tích tự nhiên thành phố), trong đó: đất ở là 24.060 ha, đất cho phát triển ngành sản xuất phi nông nghiệp, thương mại dịch vụ 8.276 ha; đất phát triển khu công nghiệp và khu chế xuất là 5.914 ha; đất cụm công nghiệp 331 ha; đất khu công nghệ cao là 913 ha; đất xây dựng cơ sở hạ tầng 34.921 ha; trong đó đất giáo dục 4.874 ha, đất y tế 665 ha, đất văn hóa 2.748 ha,...

- Đất nông nghiệp là 88.005 ha (chiếm 42,47% diện tích đất tự nhiên của thành phố). 

- Đất chưa sử dụng là 309 ha (chiếm 0,15% diện tích đất tự nhiên thành phố).

28 Ước tính thu được từ đất (giai đoạn 2015 - 2020) là 217.400 tỷ đồng, trong đó thu từ tiền sử dụng đất là 144.400 tỷ đồng (chiếm 66,42% tổng số thu từ đất) và thu từ cho thuê mặt đất, mặt nước là 16.000 tỷ đồng (chiếm 7,36% tổng số thu từ đất).

29 Dự tính đạt khoảng 2.156,6 ngàn tỷ đồng.

30 Môi trường đầu tư, các chính sách khuyến khích phát triển của Nhà nước ngày càng hoàn thiện, huy động tốt hơn các nguồn lực đầu tư cho phát triển kinh tế thành phố. Hoạt động xúc tiến thương mại và đầu tư được triển khai mạnh mẽ, góp phần thu hút vốn đầu tư, hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố, tăng tỷ trọng xuất khẩu các sản phẩm chế biến có giá trị gia tăng cao. Việc xếp hạng chỉ số cạnh tranh địa phương (PCI) qua các năm tuy chưa cao, nhưng xếp hạng thu hút FDI của Thành phố Hồ Chí Minh thường xuyên nằm trong nhóm 3 địa phương dẫn đầu cả nước.

Nguồn lực đầu tư tư nhân theo hình thức đối tác công tư (PPP): Trong giai đoạn 2015 - 2020, thành phố đã hoàn tất việc đàm phán, ký kết 07 hợp đồng dự án PPP với tổng giá trị 17.095 tỷ đồng thuộc các lĩnh vực giao thông, chống ngập và hạ tầng kỹ thuật.

31 Giai đoạn 2011 - 2015, lượng kiều hối đạt 23,8 tỷ USD. Năm 2016 đạt 4,8 tỷ USD; năm 2017 đạt 5,2 tỷ USD; năm 2018 đạt 5 tỷ USD; năm 2019 đạt 5,5 tỷ USD; ước năm 2020 đạt 5,2 tỷ USD. Tính chung giai đoạn 2016 - 2020, lượng kiều hối đạt 25,7 tỷ USD.

32 Dự toán năm 2016 là 298.300 tỷ đồng, thực hiện 315.298 tỷ đồng, đạt 105,7%; dự toán năm 2017 là 347.882 tỷ đồng, thực hiện 347.928 tỷ đồng, đạt 100,01%; dự toán năm 2018 là 376.780 tỷ đồng, thực hiện 377.075 tỷ đồng, đạt 100,08%; dự toán năm 2019 là 399.125 tỷ đồng, thực hiện 409.593 tỷ đồng, đạt 102,62%. Giai đoạn 2016 - 2019 đạt 101,96% so với dự toán.

33 Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn giai đoạn 2016 - 2019 là 1.449.895 tỷ đồng, đạt 101,96% dự toán, tốc độ tăng thu bình quân là 9,83%; ước năm 2020 là 367.100 tỷ đồng, đạt 90,46%. Ước thực hiện tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn giai đoạn 2016 - 2020 là 1.816.995 tỷ đồng, đạt 99,4% với dự toán và tăng 52,12% so với giai đoạn 2011 - 2015, tốc độ tăng thu bình quân là 5,8%. Trong đó: Thu nội địa là 1.183.639 tỷ đồng, đạt 97,72% dự toán, tăng 85,21% so với cả giai đoạn 2011 - 2015, tốc độ tăng thu bình quân là 8,98%; Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu là 536.989 tỷ đồng, đạt 98,84% dự toán, tăng 35,85% so với cả giai đoạn 2011 - 2015, tốc độ tăng thu bình quân là 1,75%; Thu từ dầu thô là 96.367 tỷ đồng, đạt 131,34% dự toán, giảm 39,8% so với giai đoạn 2011 - 2015, tốc độ thu bình quân là 0,29%. Riêng số thu ngân sách của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng từ 47,6 nghìn tỷ năm 2016 lên thành 65,1 nghìn tỷ năm 2019; tính chung cả giai đoạn 2016 - 2019 là 230,7 nghìn tỷ đồng.

34 Dự toán thu ngân sách thành phố năm 2020 là 405.828 tỷ đồng, lớn hơn tổng thu ngân sách của 52 tỉnh, thành trong cả nước có mức thu từ dưới lên trên (401.334 tỷ đồng).

35 Kể từ năm 2017 (năm đầu thời kỳ ổn định ngân sách 2017 - 2020), tỷ lệ phân chia nguồn thu cho ngân sách thành phố giảm từ 23% xuống còn 18%. Trong khi đó, nhu cầu vốn để chi đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và nhu cầu kinh phí để đảm bảo các chính sách, chế độ ngày càng tăng cao đã gây áp lực khá lớn cho ngân sách thành phố.

36 Ước tổng chi cân đối ngân sách địa phương giai đoạn 2016 - 2020 là 356.699 tỷ đồng, đạt 87,15% dự toán, tăng 54,61% so với giai đoạn 2011 - 2015, tốc độ tăng chi bình quân hàng năm là 12,24%. Trong đó: Chi đầu tư phát triển: dự kiến tổng giai đoạn là 122.534 tỷ đồng, đạt 80,82% dự toán, tăng 36,68% so giai đoạn 2011 - 2015, tốc độ tăng chi bình quân là 9,48% và chiếm tỷ trọng 36,66% tổng chi ngân sách; Chi thường xuyên: dự kiến tổng giai đoạn là 194.717 tỷ đồng, đạt 98,84% dự toán, tăng 50,64% so với tổng chi cả giai đoạn 2011 - 2015, tốc độ tăng chi bình quân là 9,18% và chiếm tỷ trọng 58,25% tổng chi ngân sách. Nếu không tính chi thu nhập tăng thêm theo Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐND, tổng chi thường xuyên là 180.843 tỷ đồng, đạt 98,75% so với dự toán, tăng 39,9% so với giai đoạn 2011 - 2015, chiếm tỷ trọng 56,45% trong tổng chi cân đối ngân sách.

37 Quyết định số 26/2019/QĐ-TTg ngày 15 tháng 8 năm 2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Danh mục doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa đến hết năm 2020, thành phố có 36 doanh nghiệp cổ phần hóa, Nhà nước giữ trên 50% đến dưới 65% vốn điều lệ và 02 doanh nghiệp cổ phần hóa, Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống hoặc không nắm giữ cổ phần. Tuy nhiên, do chưa có hướng dẫn của bộ, ngành Trung ương về phương án sử dụng đất khi thực hiện cổ phần hóa nên tiến độ cổ phần hóa bị chậm so với kế hoạch.

38 Năm 2019, tỷ trọng đóng góp của khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước trong GRDP thành phố là 55,01%.

39 Giai đoạn 2016 - 2019, có 165.109 doanh ngiệp được cấp phép thành lập mới; ước cả giai đoạn 2016 - 2020, tổng số doanh nghiệp được cấp phép thành lập mới đạt 203.243 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký là 2.810.406 tỷ đồng, so với giai đoạn 2011 - 2015 tăng 52,54% về số lượng doanh nghiệp và tăng 236% về tổng vốn đăng ký. Tính chung tổng vốn đăng ký và bổ sung là 4.312.117 tỷ đồng, tăng 402% so với cùng kỳ (giai đoạn 2011 - 2015, tổng số lượt doanh nghiệp đăng ký thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh là 137.432 lượt doanh nghiệp, trong đó vốn điều chỉnh bổ sung là 348.458 tỷ đồng). Ước 2020, có khoảng 37.234 doanh nghiệp thành lập mới.

40 Năm 2019, tỷ trọng đóng góp của khu vực doanh nghiệp có vốn nước ngoài trong GRDP thành phố là 18,56%.

41 Giai đoạn 2011 - 2015, tổng vốn tính chung của doanh nghiệp nước ngoài đầu tư là 13,8 tỷ USD. Từ năm 2016 đến năm 2019 lần lượt đạt 3,9 tỷ USD; 6,7 tỷ USD; 6,2 tỷ USD; 8,3 tỷ USD; ước năm 2020 đạt 4 tỷ USD (giảm mạnh do tác động Covid-19). Đến cuối năm 2020, trên địa bàn thành phố có 10.321 dự án đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư, kể cả cấp mới và tăng vốn, là 49,2 tỷ USD.

42 Tổng số hợp tác xã đã tiến hành tổ chức lại theo Luật Hợp tác xã 2012 là 328/334 hợp tác xã (chiếm tỷ lệ 98,2%), còn lại 06/334 hợp tác xã (chiếm tỷ lệ 1,8%) là những hợp tác xã chưa tổ chức lại. Các hợp tác xã chưa thực hiện tổ chức lại do nguyên nhân đang ngừng hoạt động hoặc cơ cấu hướng sang mô hình khác hoạt động. Hiện còn 01 Liên hiệp Hợp tác xã thuộc lĩnh vực Thương mại (Saigon Co.op) vẫn đang tiến hành tổ chức lại theo Luật Hợp tác xã 2012.

43 Năm 2018: GRDP thành phố chiếm trên 48,4% tổng GRDP của cả Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (bao gồm 8 tỉnh, thành: Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang). Lao động đang làm việc chiếm 41% lao động toàn Vùng. Tổng thu ngân sách chiếm 59% tổng thu ngân sách toàn Vùng; tổng vốn đầu tư toàn xã hội chiếm 58% của Vùng; tổng kim ngạch xuất khẩu chiếm 38% toàn Vùng.

44 Năm 2019, Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh ký kết hợp tác triển khai dự án đường cao tốc Thành phố - Mộc Bài (Tây Ninh), cùng với 13 tỉnh, thành Vùng Đồng bằng sông Cửu Long ký kết chương trình hợp tác phát triển du lịch giai đoạn 2020 - 2025, từng bước đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn theo chủ trương của Đảng.

45 Gồm công tác quản lý nhà nước về du lịch; phát triển sản phẩm du lịch; quảng bá xúc tiến du lịch; phát triển nguồn nhân lực du lịch; kêu gọi đầu tư phát triển du lịch; Ba chương trình du lịch tiêu biểu liên kết Thành phố Hồ Chí Minh và 13 tỉnh, thành đồng bằng sông Cửu Long như: Những nẻo đường phù sa, Sắc màu vùng biên, Non nước hữu tình; Ba chương trình du lịch tiêu biểu liên kết vùng Đông Nam bộ như: Sắc xanh ngày mới, Chinh phục nóc nhà Nam bộ; Tình đất đỏ miền Đông; Thiên nhiên xanh mát, sắc biển hòa ca.

46 Có nguyên nhân do Chính phủ chậm phê duyệt đề án cổ phần hóa và ban hành các hướng dẫn.

47 Nguyên nhân chủ yếu là do năm 2020 có dịch bệnh Covid-19 ảnh hưởng đến kinh tế toàn cầu và trong nước. Ngoài ra, khi xây dựng chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ X, thành phố tính theo chỉ tiêu cũ là GDP, có tốc độ cao hơn so với chỉ tiêu mới là GRDP và do dân số thành phố thực tế năm 2020 cao hơn so với số dự ước vào năm 2015.

48 Một số Chương trình, Đề án đột phá trong lĩnh vực giáo dục: Chương trình “Dạy và học Toán, Khoa học và Tiếng Anh tích hợp chương trình Anh và Việt Nam”, Mô hình “Trường tiên tiến, hiện đại theo xu thế hội nhập quốc tế và khu vực”, Chương trình Tiếng Anh tăng cường, Đề án Thanh toán học phí không dùng tiền mặt - Thẻ học đường thông minh, Chương trình Truyền thông giáo dục, Chương trình nhận giữ trẻ từ 6 đến 18 tháng tuổi, thí điểm Hỗ trợ giữ trẻ ngoài giờ ở khu công nghệp - khu chế xuất,…

49 Đã công bố Kiến trúc tổng thể ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục - đào tạo thành phố, bước đầu xây dựng được cơ sở dữ liệu dùng chung của ngành,…

50 Thành phố có 54 trường đại học, học viện với hơn 500 ngàn sinh viên đang theo học; 163 chương trình liên kết với nhiều quốc gia hàng đầu; hơn 5.000 sinh viên Việt Nam và 2.000 sinh viên quốc tế theo học các chương trình quốc tế; hơn 1.500 lượt giảng viên quốc tế đến giảng dạy, nghiên cứu, giao lưu và học tập; có gần 900 hoạt động ký kết hợp tác với các tổ chức quốc tế trong 3 năm gần đây.

51 Hội đồng Hiệu trưởng các Trường Đại học được thành lập từ năm 2017 với 06 Hội đồng các khối ngành đã triển khai một số hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực và tham gia giải quyết các vấn đề thành phố đang gặp khó khăn. 

52 Đã có 1.563.065 lượt lao động được giải quyết việc làm, trong đó có 671.207 chỗ làm mới. Bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho 312.613 lượt lao động và 134.241 chỗ làm mới.

53 Từ năm 2016 đến 2019: 4,4%; 3,95%; 3,76%; 3,7%; năm 2020: dưới 3,7%.

54 Có 38/80 trường đại học, cao đẳng đạt chuẩn chất lượng của Bộ Giáo dục và Đào tạo hoặc chuẩn khu vực và quốc tế, 106 ngành được công nhận đạt chuẩn kiểm định chất lượng quốc tế, khu vực và trong nước; không ngừng đổi mới nội dung, chương trình đào tạo tiếp cận chuẩn chất lượng giáo dục tiên tiến của các nước; tiến tới công nhận văn bằng, chuyển đổi tín chỉ và kỹ năng nghề giữa các cơ sở giáo dục nghề nghiệp của thành phố với các nước ASEAN và thế giới.

55 Đến năm 2019 có 45/55 bệnh viện tự chủ tài chính (giai đoạn 2011 - 2015 có 7/55 bệnh viện tự chủ tài chính); có 57 bệnh viện tư hoạt động với 5.036 giường bệnh, 5.944 phòng khám; đạt 42 giường bệnh/vạn dân, trong đó, bình quân diện tích 01 giường đạt 47,52m2 (so với năm 2015, tỷ lệ là 42 giường/vạn dân và diện tích 01 giường chỉ đạt 33,4m2); 20 bác sĩ/vạn dân; 98,6%, các bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải y tế đạt chuẩn, ước đến 2020 đạt 100%.

Thành phố đã ứng dụng công nghệ cao trong khám và điều trị, áp dụng nhiều kỹ thuật cao vào lĩnh vực lâm sàng và cận lâm sàng để khám chữa bệnh: sử dụng trí tuệ nhân tạo của robot trong phẫu thuật thần kinh, kỹ thuật ECMO trong điều trị suy hô hấp, phẫu thuật hybrid chuyển vị các nhánh động mạch tạng và não,…

56 Các mô hình: Khởi động đổi mới hoạt động trạm y tế theo nguyên lý y học gia đình với 24 trạm y tế điểm.

57 Phòng khám đa khoa vệ tinh của bệnh viện quận, huyện đặt tại trạm y tế, kết nối hỗ trợ tư vấn chuyên môn từ xa giữa bác sĩ chuyên khoa của thành phố với bác sĩ của trạm y tế, đưa bác sĩ ở bệnh viện quận, huyện về trạm y tế.

58 Công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19 được triển khai hiệu quả; các đơn vị luôn trong tư thế sẵn sàng, tuyệt đối không chủ quan, lơi lỏng, tập trung phòng, chống dịch bệnh với tinh thần trách nhiệm cao nhất; thực hiện phương châm “Chủ động phòng ngừa sớm, phát hiện kịp thời, cách ly triệt để, điều trị tích cực” và phương châm 5 tại chỗ “Nhiệm vụ tại chỗ, chỉ huy tại chỗ, lực lượng con người tại chỗ, phương tiện tại chỗ và hậu cần tại chỗ”. Chủ động chuẩn bị các kịch bản, phương án ứng phó với các tình huống dịch bệnh xảy ra. Hoàn thành việc hỗ trợ do ảnh hưởng của dịch Covid-19 cho 554.102 đối tượng (đạt 100%) của 4.739 đơn vị (đạt 100%) với số tiền 606 tỷ đồng (gói hỗ trợ lần 1, hiện đang xây dựng triển khai gói hỗ trợ lần 2. 

59 Trên cơ sở sáp nhập cơ quan chuyên môn từ 3 đơn vị (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công Thương và Sở Y tế).
60 Tình hình ngộ độc thực phẩm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2014 - 2016 và sau khi thành lập Ban từ năm 2017 đến tháng 6 năm 2020 đã có kết quả rất tích cực:

- Số vụ ngộ độc trên địa bàn thành phố: giảm 9 vụ (50%), số người bị ngộ độc thực phẩm giảm gần 8 lần.

- Không xảy ra ngộ độc thực phẩm trong Khu Chế xuất - Khu Công nghiệp, giai đoạn 2014 - 2017 xảy ra 5 vụ.

- Số vụ ngộ độc thực phẩm trên 30 người giảm rõ rệt, từ năm 2017 đến tháng 6/2020 chỉ xảy ra 01 vụ, giai đoạn 2014 - 2017 xảy ra 13 vụ.

- Tổng số người bị ngộ độc thực phẩm từ năm 2017 đến tháng 6 năm 2020 là 170 người, giảm 86,2% so với giai đoạn 2014 - 2016 (1.235 người bị ngộ độc).

61 Kết quả này được thể hiện thông qua chỉ số năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) luôn ở mức cao giai đoạn 2016 - 2019, đạt trung bình 37,52% (năm 2016: 35,3%; năm 2017: 36,7%, năm 2018: 38,1%, năm 2019: 40%), trong đó đóng góp của khoa học và công nghệ vào tăng trưởng TFP là 74%. Đồng thời, tốc độ tăng năng suất lao động của thành phố bình quân giai đoạn 2016 - 2020 là 5,17%/năm, cao hơn giai đoạn 2011 - 2015 là 4,42%/năm. Thành phố Hồ Chí Minh luôn nằm trong top 10 thành phố năng động nhất thế giới (Những yếu tố quan trọng nhất mang tính đặc trưng của những thành phố năng động nhất thế giới là yếu tố công nghệ và sự đổi mới) kể từ năm 2017 đến nay. Theo công bố về chỉ số Đổi mới Sáng tạo Toàn cầu (GII) năm 2019, Việt Nam được xếp hạng 42/129 quốc gia và nền kinh tế, tăng 17 bậc so với năm 2016, xếp thứ 3 trong khu vực ASEAN, đứng đầu nhóm những nước có thu nhập trung bình thấp. Đây là thứ hạng cao nhất mà Việt Nam đạt được từ trước tới nay.

Bước tiến đáng kể này có sự đóng góp rất lớn từ những nỗ lực của thành phố Hồ Chí Minh trong suốt thời gian qua - một trong những địa phương đi đầu cả nước trong việc khuyến khích, tạo lập môi trường thuận lợi để thúc đẩy, hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, ứng dụng hiệu quả tiến bộ khoa học và công nghệ vào tổ chức quản trị, sản xuất, kinh doanh, gia tăng giá trị trong chuỗi cung ứng; thúc đẩy hình thành và phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

62 Điều này thể hiện qua việc số lượng doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo chiếm tỷ lệ 36,4%.

63 Tổng số các nhóm, các doanh nghiệp khởi nghiệp đang hoạt động trên địa bàn thành phố là 1.920 doanh nghiệp , năm 2020 ước khoảng 2.200 doanh nghiệp, chiếm tỷ lệ 55% so với cả nước (khoảng 4.000 doanh nghiệp). Tiếp tục đầu tư và khai thác hiệu quả các trung tâm ươm tạo doanh nghiệp công nghệ tại các trường đại học, Khu công nghệ cao, Khu nông nghiệp công nghệ cao, Công viên phần mềm Quang Trung, góp phần xây dựng một hệ sinh thái khởi nghiệp bền vững.

64 Khu đô thị sáng tạo tương tác cao phía Đông thành phố (Quận 2, Quận 9 và quận Thủ Đức) năm 2020 có diện tích là 21.000 ha (11% diện tích thành phố), gần 1 triệu dân (11% dân số thành phố), với Khu công nghệ cao (tổng đầu tư trên 7 tỷ USD, xuất khẩu trên 10 tỷ USD/năm) và 4 khu công nghiệp, Khu chế xuất với Đại học Quốc gia và 5 đại học khác (100.000 sinh viên và gần 2.000 tiến sĩ), với Khu đô thị mới Thủ Thiêm có Trung tâm tài chính Thành phố Hồ Chí Minh, với cảng Cát Lái là cảng container lớn nhất cả nước sẽ là nơi có mật độ công nghiệp, dịch vụ công nghệ cao lớn nhất thành phố, mật độ sinh viên và nghiên cứu khoa học đại học lớn nhất cả nước, trong tương lai có thể đóng góp 30% GRDP của Thành phố Hồ Chí Minh.

65 Các mô hình quận/ huyện trực tuyến, Cổng thông tin tiếp nhận và giải đáp thông tin cho người dân, tổ chức, doanh nghiệp (1022) được triển khai rộng rãi cũng mang lại sự thuận lợi cho sự tương tác giữa người dân, tổ chức với các cơ quan Nhà nước, cũng như tạo điều kiện tốt hơn để người dân, tổ chức tham gia giám sát, đóng góp ý kiến tham gia xây dựng chính quyền. Ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ tác nghiệp tại các sở, ban, ngành, quận, huyện cũng đã được tập trung triển khai. Bên cạnh đó, thành phố đã triển khai liên thông văn bản điện tử đơn vị trên địa bàn thành phố và kết nối với trục liên thông văn bản quốc gia. Tính đến ngày 15 tháng 3 năm 2020 đã cung cấp được 433/1.776 (chiếm 24,38%) thủ tục hành chính công trực tuyến cấp độ 3 và cung cấp được 235/1.776 (chiếm 13,23%) thủ tục hành chính công trực tuyến cấp độ 4.

66 “Đường sách thành phố Hồ Chí Minh” tại đường Nguyễn Văn Bình, Quận 1, “Lễ hội đường sách Tết” đã lồng ghép triển khai hoạt động triển lãm, giới thiệu sách, tọa đàm giao lưu tác giả, tác phẩm đa dạng phong phú với 10 lần tổ chức và trở thành Lễ hội độc đáo của Thành phố trong dịp Tết cổ truyền.

67 Tỷ lệ gia đình đạt chuẩn gia đình văn hóa: 86,8% (2016), 86,2% (2017), 91,8% (2018); 93,6% (2019); tỷ lệ khu phố văn hóa, ấp văn hóa: 91,4% (2015); 89,7% (2016), 89,8% (2017), 92,7% (2018); 97,9% (2019); tỷ lệ cơ quan đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa: 89,2% (2015); 93,7% (2016), 92,2% (2017), 93,6% (2018); 93,2% (2019).

68 Tỷ lệ người tập luyện thường xuyên: năm 2016 đạt 29%; năm 2017 đạt 30.2%; năm 2018 đạt 31,5%; năm 2019 đạt 32.48%; Số học sinh đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể: năm 2016 đạt 99%; năm 2017 đạt 99,1%; năm 2018 đạt 99,2%; năm 2019 đạt 99,45%.

69 Tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 0,5% và tỷ lệ hộ cận nghèo dưới 1,5%; thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo tăng so với đầu năm 2011 là 3,5 lần (hộ nghèo từ 28 triệu đồng/người/năm trở xuống; hộ cận nghèo từ trên 28 triệu đến 36 triệu đồng/người/năm).

70 Số người tham gia bảo hiểm xã hội dự ước đến năm 2020 là 2.736.627 người, tăng hơn 1,4 lần so với năm 2015 (1.954.429 người), chiếm gần 55% lực lượng lao động. Tỷ lệ bảo hiểm xã hội của cả nước tăng hơn 1,3 lần so với năm 2015, chiếm gần 30% lực lượng lao động làm việc trong nền kinh tế.

71 Khu trung tâm đô thị mới Thủ Thiêm đã hoàn thành đưa vào sử dụng 1,48 triệu m2 sàn xây dựng nhà ở, đạt 56,9% kế hoạch; Khu đô thị mới Nam thành phố đã đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật tương đối hoàn chỉnh mạng lưới giao thông chính, đưa vào sử dụng là 2,4 triệu m2 sàn xây dựng nhà ở, đạt 57,1% kế hoạch.

72 Giai đoạn 2011 - 2015, số công trình vi phạm trật tự xây dựng là 16.986 trường hợp, bình quân 9,3 vụ vi phạm/ngày; giai đoạn 2016 - 2020, số công trình vi phạm trật tự xây dựng là 10.346 trường hợp, bình quân 6,4 vụ vi phạm/ngày, giảm 2,9 vụ vi phạm/ngày, tỷ lệ giảm 30,8% so với giai đoạn 2011 - 2015. Riêng giai đoạn 2019 - 2020 có 2.750 trường hợp vi phạm, bình quân 5,3 vụ vi phạm/ngày, giảm 4 vụ vi phạm/ngày, tỷ lệ giảm 42,6% so với giai đoạn 2011 - 2015. Tháng 7 năm 2020 - tháng 9 năm 2020 bình quân chỉ còn 1,7 vụ/ngày, giảm 80% so với cùng kỳ năm 2019.

73 Đã giải quyết 95/95 tuyến đường trục chính ngập do triều (đạt 100%) và đã giải quyết 111/126 tuyến đường ngập do mưa (đạt 88,09%).

74 Thành phố đã xây dựng 03 nhà máy xử lý nước thải tập trung với tổng công suất là 302.000 m3/ngày gồm: nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng - giai đoạn 1 công suất 141.000 m3/ngày, nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng Hòa công suất 30.000 m3/ngày và nhà máy xử lý nước thải Tham Lương - Bến Cát (chưa đi vào hoạt động) với công suất 131.000 m3/ngày đêm; đang xây dựng nhà máy Bình Hưng - giai đoạn 2 (469.000 m3/ngày). Hiện thành phố đã đưa vào vận hành 02 nhà máy xử lý nước thải tập trung gồm Nhà máy xử lý nước Bình Hưng - giai đoạn 1 công suất 141.000 m3/ngày, Nhà máy Bình Hưng Hòa công suất 30.000m3/ngày và một phần công suất Nhà máy Tham Lương - Bến Cát (15.000m3/ngày/131.000m3/ngày) với tổng công suất xử lý 186.000m3/ngày.

Kết quả đến nay 97,5% nước thải bệnh viện và 100% nước thải công nghiệp được xử lý đạt quy chuẩn môi trường.

75 Đến tháng 9 năm 2020, đã có 317/322 phường, xã, thị trấn được công nhận là “sạch, không xã rác ra đường và kênh rạch”, đạt tỷ lệ 98,44%, đã xóa được 814/824 điểm ô nhiễm do tồn đọng rác thải (đạt tỷ lệ 98,7%), trong đó có 142 điểm được chuyển hóa thành khu sinh hoạt cộng đồng (công viên, vườn hoa, sân chơi thể thao, khu vui chơi cho thiếu nhi...); lắp đặt được 34.413 thùng rác công cộng trên các tuyến đường, tuyến hẻm và bổ sung thêm 28.257 camera quan sát an ninh trật tự kết hợp giám sát các trường hợp thải bỏ rác thải sai quy định. Thành phố đã tổ chức sắp xếp được 2.093 tổ, đường dây thu gom rác dân lập tham gia vào hợp tác xã hoặc doanh nghiệp có tư cách pháp nhân (đạt tỷ lệ 77,5%). Toàn thành phố hiện có 37 hợp tác xã vệ sinh môi trường (tăng 23 hợp tác xã so với năm 2017), 283 doanh nghiệp tư nhân thu gom rác (tăng 195 doanh nghiệp so với năm 2017) và hiện nay còn khoảng 613 tổ, đường dây thu gom rác chưa có tư cách pháp nhân hoạt động trên địa bàn các quận.

76 Kết quả đến nay: 97% nguồn khí thải công nghiệp, 97,5% nước thải bệnh viện và 100% nước thải công nghiệp được xử lý đạt quy chuẩn môi trường; 100% khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp có chủ đầu tư cơ sở hạ tầng có hệ thống xử lý nước thải tập trung và hệ thống quan trắc nước thải tự động có đường truyền dữ liệu về cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực môi trường để kiểm tra, giám sát. Lượng túi thân thiện môi trường năm 2019 tại hệ thống siêu thị và trung tâm thương mại chiếm 92,25% và phấn đấu 100% siêu thị, trung tâm thương mại chuyển sang sử dụng túi thân thiện môi trường vào cuối năm 2020. Lượng túi thân thiện môi trường năm 2019 tại loại hình chợ chiếm 20-30% và phấn đấu đạt 50% chợ dân sinh chuyển sang sử dụng túi thân thiện môi trường vào cuối năm 2020; thu gom và tái chế 54% khối lượng chất thải túi ni lông khó phân hủy phát sinh trong sinh hoạt. 100% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt, chất thải nguy hại, chất thải rắn y tế được lưu giữ, thu gom, vận chuyển, xử lý, tái chế và tái sử dụng đảm bảo tiêu chuẩn môi trường; áp dụng công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt (tái chế, làm phân compost và đốt) là 31% và chôn lấp hợp vệ sinh 69% trên tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt. 

77 (1) 97% nguồn khí thải công nghiệp được xử lý đạt quy chuẩn môi trường; (2) 100% hộ dân thành phố được sử dụng nước sạch; (3) 100% số bãi chôn lấp chất thải đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và hợp vệ sinh; (4) Tỷ lệ che phủ rừng và cây xanh phân tán trên 40% (đã đạt tỷ lệ 40,2%); (5) 100% khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp có chủ đầu tư cơ sở hạ tầng, có hệ thống xử lý nước thải tập trung và hệ thống quan trắc nước thải tự động, có đường truyền dữ liệu về cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực môi trường để kiểm tra, giám sát.

78 Cải cách thủ tục thông quan: Tân Cảng Cát Lái thực hiện đề án “Tạo thuận lợi thương mại: Thủ tục hải quan trong hoạt động logistics và chống ùn tắc hàng hóa xuất nhập khẩu tại cảng Cát Lái”, theo đó doanh nghiệp được giải phóng hàng hoá nhanh, có thể thông quan hàng hóa nhập khẩu ngay tại cầu tàu, không cần phải bốc xếp lên bãi, rút ngắn tối đa thời gian thông quan hàng hóa. Lưu lượng hàng hóa xuất nhập khẩu một ngày qua cảng Cát Lái khoảng 15.000 container; lợi ích về chi phí, giảm được chi phí cho doanh nghiệp trung bình từ 700.000 đồng đến 01 triệu đồng/container, bao gồm chi phí hạ container, chi phí đảo chuyển container, chi phí bốc xếp, chi phí lưu container,...

79 Từ năm 2016 đến tháng 8 năm 2020, trung bình hàng năm giảm 5,23% số vụ, giảm 5,87% số người chết và giảm 11,31% số người bị thương. Năm 2016 có 37 điểm nguy cơ ùn tắc giao thông, năm 2017 giảm còn 34 điểm, năm 2018 giảm còn 28 điểm, năm 2019 giảm còn 22 điểm. Năm 2016 có 17 điểm đen tai nạn giao thông, năm 2017 còn 17 điểm, năm 2018 giảm còn 16 điểm, năm 2019 giảm còn 8 điểm, đến hết tháng 8 năm 2020 giảm còn 7 điểm.

80 Trung tâm Quản lý điều hành giao thông đô thị đã cung cấp trực tuyến cho người dân các thông tin liên quan về tình hình giao thông tiến tới quản lý điều hành giao thông theo thời gian thực. Cổng thông tin của ngành y tế cung cấp nhiều chuyên mục thuộc các lĩnh vực khám chữa bệnh, y tế dự phòng, cải cách hành chính; người dân có thể tra cứu trực tuyến về giấy phép, phạm vi hoạt động chuyên môn của cá nhân người hành nghề và cơ sở y tế. Cổng thông tin ngành xây dựng, tài nguyên môi trường cung cấp nhiều chuyên mục về xây dựng và tài nguyên. Ứng dụng thông tin quy hoạch thành phố cung cấp các thông tin quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch giao thông.

81 Vành đai 2 chưa khép kín, Vành đai 3, Vành đai 4 vẫn chưa được đầu tư.

82 Hệ thống các tuyến metro và xe buýt nhanh BRT chưa hình thành, hoạt động vận tải khách ứng dụng công nghệ phát triển nhanh (số lượng phương tiện tham gia tăng từ 1.877 xe/năm 2015 và đến tháng 12 năm 2019 là 52.133 xe, tăng 28 lần so với năm 2015), đề án tăng cường vận tải hành khách công cộng kết hợp kiểm soát phương tiện giao thông cá nhân đang trong quá trình hoàn chỉnh và chưa phê duyệt triển khai theo kế hoạch. Khối lượng vận chuyển mặc dù có biến động tăng khoảng 58 triệu lượt hành khách so với năm 2015 (tăng từ 575 triệu lượt hành khách năm 2015 thành 633 triệu lượt hành khách năm 2019), nhưng khối lượng tăng không đáng kể và hoạt động vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt có xu hướng giảm.

83 Thành phố đã đón tiếp hơn 600 đoàn khách quốc tế, có gần 1.000 cuộc tiếp khách đối ngoại với các nội dung đa dạng. Thành phố đã tổ chức 77 đoàn lãnh đạo thành phố (cấp Phó Chủ tịch trở lên) đi công tác nước ngoài. Thành phố đã ký 12 Bản ghi nhớ thiết lập quan hệ hợp tác hữu nghị với 13 địa phương nước ngoài; 28 văn bản hợp tác chuyên ngành với các đối tác nước ngoài trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội.

84 Thành phố đã tổ chức hơn 100 sự kiện đối ngoại, bao gồm các sự kiện thường niên như các Lễ kỷ niệm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và các nước, Lễ hội Việt - Nhật, Lễ hội Văn hóa Thế giới, Lễ hội Áo dài, Lễ hội Thành phố Hồ Chí Minh - Phát triển và Hội nhập, sự kiện Gặp mặt Lãnh sự đoàn hàng năm, Hội chợ Du lịch Quốc tế ITE - Thành phố Hồ Chí Minh, Diễn đàn Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Lễ hội “Những ngày Thành phố Hồ Chí Minh tại các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga...

85 Trong nhiệm kỳ qua, thành phố đã ký các biên bản hợp tác với các đối tác chiến lược của Việt Nam: Hà Lan, Đức, Singapore, Úc trong các lĩnh vực như quản lý nước, thích ứng với biến đổi khí hậu, xử lý rác, chống ngập (Hà Lan); xây dựng trung tâm tài chính, đào tạo nghề (Đức); quản lý đô thị và giáo dục (Singapore); đào tạo nguồn nhân lực về du lịch; chế biến lương thực thực phẩm và quản lý đô thị (Úc).

86 Ban Thường vụ Thành ủy đã ban hành Kế hoạch số 290-KH/TU ngày 18 tháng 7 năm 2019 về thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22 tháng 10 năm 2018 của Bộ Chính trị khóa XII về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

87 Từ 2016 đến năm 2019, toàn Đảng bộ tổ chức tuyên dương 1.593 gương điển hình cấp thành phố (gồm 622 tập thể, 966 cá nhân); 16.193 gương (5.578 tập thể, 10.615 cá nhân) cấp quận, huyện và đảng ủy cấp trên cơ sở.

88 Từ năm 2015 - 2018, lãnh đạo cấp ủy, chính quyền các cấp của thành phố đã tiếp 23.895 lượt công dân, trong đó: lãnh đạo thành phố tiếp 67 buổi/67 vụ việc, lãnh đạo sở, ban - ngành thành phố tiếp 1.311 lượt công dân, lãnh đạo quận - huyện tiếp 7.184 lượt công dân, lãnh đạo phường, xã - thị trấn tiếp 15.333 lượt công dân. 

89 Ban hành Kế hoạch số 198-KH/TU ngày 25 tháng 6 năm 2018 của Ban Thường vụ Thành ủy thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Kế hoạch số 07-KH/TW ngày 27 tháng 11 năm 2017 của Bộ Chính trị thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”.

90 Mô hình tổ chức và hoạt động của khu phố, ấp, tổ dân phố, tổ Nhân dân nhằm định hướng xây dựng mô hình mới về tổ chức và hoạt động dưới phường, xã- thị trấn theo tinh thần Kết luận số 64-KL/TW ngày 28 tháng 5 năm 2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI; rà soát, thu thập, đánh giá toàn diện thực trạng các loại hình cơ sở đảng; Đề án “sắp xếp tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác Đảng, tổ chức chính trị - xã hội tại các đảng bộ cấp trên cơ sở”, gắn với chế độ, chính sách đối với cán bộ chuyên trách khi sắp xếp lại; Đề án sắp xếp tổ chức bộ máy, cơ chế hoạt động của Ban Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ thành phố; Đề án sắp xếp các đơn vị sự nghiệp của các cơ quan khối Đảng, đoàn thể chính trị - xã hội thành phố; phương án, kế hoạch sắp xếp tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc Thành ủy theo Quy định số 04-QĐi/TW của Ban Bí thư; Đề án hợp nhất Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố, Văn phòng Hội đồng Nhân dân thành phố và Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố theo lộ trình cụ thể; chỉ đạo sắp xếp lại các Ban quản lý các dự án của thành phố, quận - huyện, Ban quản lý đầu tư các khu đô thị, Ban quản lý đầu tư các dự án ODA; thống nhất thực hiện mô hình trưởng ban tuyên giáo quận ủy, huyện ủy kiêm giám đốc trung tâm bồi dưỡng chính trị quận, huyện (tính đến nay đã có 22/24 quận, huyện thực hiện mô hình này); thí điểm thực hiện mô hình trưởng ban dân vận cấp ủy đồng thời là chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp quận, huyện tại Huyện Củ Chi; triển khai thực hiện Đề án sáp nhập Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp và Trung tâm Giáo dục thường xuyên của 23/24 quận, huyện, giảm 35 trung tâm, 35 cấp trưởng.

91 Kết luận số 222-KL/TU ngày 16 tháng 6 năm 2017 của Ban Thường vụ Thành ủy về chính sách hỗ trợ đối với cán bộ nghỉ hưu trước tuổi, nghỉ việc theo Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị, Nghị định số 108/2014/NĐ-CP của Chính phủ; Nghị quyết số 25/2017/NQ-HĐND ngày 07 tháng 12 năm 2017 của Hội đồng Nhân dân thành phố khóa IX, kỳ họp thứ sáu về chế độ hỗ trợ thêm đối với cán bộ nghỉ hưu trước tuổi, thôi việc theo quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị, Nghị định số 108/2014/NĐ-CP của Chính phủ.

92 Chương trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ; Chương trình đào tạo nguồn quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý trẻ tuổi và Chương trình đào tạo nguồn quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý xuất thân từ công nhân. Từ năm 2016 - 2019 đào tạo 06 tiến sĩ và 87 thạc sĩ.

93 Xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý giai đoạn 2017 - 2020; kế hoạch tổ chức các lớp cập nhật kiến thức cho cán bộ lãnh đạo, quản lý (đối tượng 3, 4) hàng năm; kế hoạch tổ chức các lớp hoàn chỉnh kiến thức để cấp bằng cao cấp lý luận chính trị; kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển cán bộ sau quy hoạch; định kỳ hàng năm cử cán bộ tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài, trong nước; tổ chức các lớp bồi dưỡng theo chức danh.

94 Chương trình hành động số 29-CTrHĐ/TU ngày 31 tháng 12 năm 2018 của Thành ủy.

95 Ban hành Quy định điều chuyển, thay thế cán bộ lãnh đạo, quản lý uy tín giảm sút; năng lực hạn chế, kết quả công tác không đáp ứng yêu cầu; Quyết định ban hành tiêu chuẩn chức danh cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Thành ủy quản lý. Đang xem xét, ban hành Quy định về tiêu chí đánh giá, xếp loại chất lượng hàng năm, nhiệm kỳ đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý diện Ban Thường vụ Thành ủy quản lý; Quy định về luân chuyển cán bộ.

96 Ban Thường vụ Thành ủy ban hành Kết luận về phân cấp phê duyệt quy hoạch cán bộ, phân cấp đánh giá cán bộ. Đồng thời chỉ đạo tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện của các cấp ủy; Ban Tổ chức Thành ủy định kỳ hàng năm tổ chức các đoàn kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nội dung trong công tác cán bộ tại các cấp ủy trực thuộc Thành ủy.

97 Kết luận số 48-KL/TW ngày 26 tháng 4 năm 2019 của Ban Bí thư về kết quả tự kiểm tra, rà soát thực hiện công tác cán bộ theo Thông báo kết luận số 43-TB/TW ngày 28 tháng 12 năm 2017 của Bộ Chính trị.

98 Thông qua việc tăng cường tiếp xúc, gặp gỡ, đối thoại với chủ doanh nghiệp, tạo mối quan hệ gắn bó giữa doanh nghiệp với địa phương, đơn vị; kịp thời hỗ trợ các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong hoạt động sản xuất - kinh doanh; tích cực tuyên truyền, vận động chủ doanh nghiệp đồng thuận, tạo điều kiện, hỗ trợ để các tổ chức đảng, đoàn thể chính trị - xã hội được thành lập và hoạt động thuận lợi, hiệu quả trong doanh nghiệp, đơn vị, nhờ đó, hoạt động của tổ chức đảng tại nhiều doanh nghiệp từng bước đi vào nền nếp, góp phần tích cực cho mối quan hệ lao động hài hòa và tiến bộ trong các doanh nghiệp ở khu vực này ngày càng tốt hơn. Chú trọng công tác phát triển đảng viên trong các chi bộ xây dựng lực lượng, chi bộ có 3 - 4 đảng viên; nâng cao chất lượng đảng viên mới kết nạp, quan tâm quần chúng ưu tú là cán bộ Công đoàn, cán bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, những người giữ chức vụ chủ chốt trong doanh nghiệp đã tác động tích cực đến việc thành lập và hoạt động của các tổ chức đảng, tổ chức chính trị - xã hội trong doanh nghiệp, nhiều chủ doanh nghiệp tư nhân sau khi trở thành đảng viên tiếp tục phát huy tốt vai trò tiên phong, tham gia cấp ủy, góp phần thuận lợi cho hoạt động của chi bộ, nâng cao vị trí, vai trò của tổ chức đảng trong doanh nghiệp.

99 Quy định số 132-QĐ/TW ngày 08 tháng 3 năm 2018 của Bộ Chính trị về kiểm điểm và đánh giá, xếp loại chất lượng hàng năm đối với tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị và Hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương về kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng hàng năm đối với tổ chức đảng, đảng viên và tập thể, cá nhân cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

100 Kế hoạch số 121-KH/TU ngày 20 tháng 10 năm 2014, Kế hoạch số 242-KH/TU ngày 03 tháng 01 năm 2019, Kế hoạch số 327-KH/TU ngày 21 tháng 11 năm 2019 của Ban Thường vụ Thành ủy về tổ chức kiểm điểm tập thể, cá nhân và đánh giá, phân loại chất lượng tổ chức cơ sở đảng, đảng viên hàng năm; Hướng dẫn số 08-HD/BTCTU ngày 12 tháng 10 năm 2014 của Ban Tổ chức Thành ủy về tổ chức kiểm điểm tập thể, cá nhân và đánh giá, phân loại chất lượng tổ chức cơ sở đảng, đảng viên hàng năm, Công văn số 141-CV/BTCTU ngày 19 tháng 11 năm 2015 của Ban Tổ chức Thành ủy về hướng dẫn kiểm điểm tập thể, cá nhân và đánh giá cán bộ, công chức, viên chức năm 2015, Hướng dẫn số 10-HD/BTCTU ngày 03 tháng 01 năm 2019 của Ban Tổ chức Thành ủy về Một số nội dung kiểm điểm và đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên và tập thể, cá nhân cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp năm 2018, Hướng dẫn số 16-HD/BTCTU ngày 25 tháng 11 năm 2019 về kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng hàng năm đối với tổ chức đảng, đảng viên và tập thể, cá nhân cán bộ lãnh đạo, quản lý.

101 Tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh năm 2015 là 51,39%, năm 2016 là 50,27%, năm 2017 là 49,96%, năm 2018 là 26,2% (bình quân 4 năm là 44,45%); tổ chức cơ sở đảng yếu kém năm 2015 là 0,34%, năm 2016 là 0,39%, năm 2017 là 0,36%, năm 2018 là 0,8% (bình quân 4 năm là 0,47%). Đảng viên đủ tư cách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2015 là 10,05%, năm 2016 là 10,21%, năm 2017 là 10,17%, năm 2018 là 12,2% (bình quân 4 năm là 10,66%); đảng viên không hoàn thành nhiệm vụ năm 2015 là 0,35%, năm 2016 là 0,44%, năm 2017 là 0,41%, năm 2018 là 0,4% (bình quân 4 năm là 0,4%).

102 Tỷ lệ đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và hoàn thành tốt nhiệm vụ tăng hàng năm, cụ thể: năm 2016: 83,67% (trong đó, có 10,21%  hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ); năm 2017: 84,84% (trong đó, có 10,18%  hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ); năm 2018: 88,3% (trong đó, có 12,24%  hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ) và năm 2019: 90,8% (trong đó, có 13,3%  hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ).

103 Đảng viên bị xóa tên do bỏ sinh hoạt đảng tăng hàng năm (năm 2015: 254; năm 2016: 225; năm 2017: 306; năm 2018: 368; năm 2019: 553), trung bình trong 5 năm (2015 - 2019) tăng 0,1% so với giai đoạn 2010 - 2014. Số đảng viên xin ra khỏi Đảng (năm 2015: 180; năm 2016: 282; năm 2017: 307; năm 2018: 338; năm 2019:581) trung bình trong 5 năm tăng 0,12% so với giai đoạn 2010 - 2014.

Nguyên nhân chủ yếu do mặt trái của nền kinh tế thị trường đã tác động đến nhận thức, điều kiện sống của đảng viên; đảng viên có hoàn cảnh gia đình, kinh tế khó khăn, phải đi làm việc xa, không có thời gian, điều kiện tham gia sinh hoạt đảng; đảng viên đi định cư ở nước ngoài (đi du học, kết hôn, đoàn tụ gia đình,...) xin ra khỏi Đảng.

104 Nhiệm kỳ 2010 - 2015, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 1.056 tổ chức đảng và 2.207 đảng viên; nhiệm kỳ 2015 - 2020, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 1.688 tổ chức đảng (tăng 16%) và 2.750 đảng viên (tăng 12,5%).

105 Vi phạm công tác quản lý Nhà nước về xây dựng, đất đai; quản lý kinh phí bồi thường, giải phóng mặt bằng; một số doanh nghiệp Nhà nước vi phạm nghiêm trọng về chuyển nhượng, hợp tác kinh doanh đối với các dự án, tài sản, đất đai; cổ phần hóa, chuyển nhượng, thoái vốn tại doanh nghiệp có vốn Nhà nước; vi phạm trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác thi hành án dân sự đối với các bản án hình sự về tham nhũng kinh tế; vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc; thực hiện công tác quy hoạch, luân chuyển, điều động, bổ nhiệm cán bộ; công tác quản lý, sử dụng tài chính, tài sản Nhà nước, tài sản của Đảng; việc kê khai, công khai tài sản, thu nhập của cán bộ diện cấp ủy quản lý,...

106 Trong nhiệm kỳ 2015 - 2020, đã xem xét, thi hành kỷ luật đảng đối với 40 tổ chức đảng (tăng 36 tổ chức đảng so với nhiệm kỳ 2010 - 2015); 2.081 đảng viên (trong đó có 05 đồng chí thành ủy viên và 69 đảng viên diện Ban Thường vụ Thành ủy quản lý). Thực hiện Quy định 1374, từ tháng 12 năm 2017 đến tháng 3 năm 2020, cấp ủy các cấp thuộc Đảng bộ thành phố đã tiếp nhận và xử lý 8.287 thông tin phản ánh (trong đó, thông tin phản ánh từ ý kiến cử tri và qua đơn, thư khiếu nại, phản ánh, tố cáo của Nhân dân, cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên là 5.817/8.287 thông tin, tỷ lệ 70,19%). Qua 04 nguồn thông tin phản ánh, các cấp ủy Đảng đã chỉ đạo xem xét, xử lý về Đảng, khiển trách 06 tổ chức đảng, kỷ luật 262 đảng viên (154 khiển trách, 84 cảnh cáo, 16 cách chức, 08 khai trừ); về chính quyền xử lý 327 trường hợp (133 khiển trách, 72 cảnh cáo, 19 cách chức, 78 trường hợp khác (kéo dài thời gian nâng bậc lương, giáng cấp, chuyển công tác...), 25 buộc thôi việc, sa thải. 

107 Kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức kiểm tra, giám sát của các cấp ủy đảng đối với công tác quản lý Nhà nước về đất đai, trật tự xây dựng và bồi thường, giải phóng mặt bằng trên địa bàn thành phố; về công tác giải quyết tố cáo trong Đảng; công tác quản lý tài chính, tài sản của Đảng; công tác cổ phần hóa, góp phần thực hiện tốt việc sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Nhà nước; công tác kiểm tra, giám sát đối với công tác tổ chức, cán bộ góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định của Đảng; hướng dẫn thực hiện một số nội dung công tác kiểm tra, giám sát của chi bộ góp phần ngăn chặn suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên theo Đề án số 01-ĐA/TU ngày 29 tháng 02 năm 2016, của Ban Thường vụ Thành ủy; nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa Ủy ban Kiểm tra Thành ủy và các cơ quan, đơn vị phục vụ tốt công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng của Đảng bộ thành phố.

108 Cử tri thành phố đã bầu đủ 30 đại biểu Quốc hội, 105 đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố, cấp huyện bầu đủ 943 đại biểu, cấp xã bầu được 9.310 đại biểu. Đặc biệt, tỷ lệ đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng Nhân dân các cấp là nữ đều cao (đại biểu Quốc hội là nữ chiếm tỷ lệ 30%, đại biểu Hội đồng Nhân dân thành phố: 43,81%; cấp huyện: 39,34%; cấp xã: 40,27%). 

109 Triển khai thực hiện Nghị định số 113/2018/NĐ-CP ngày 31/8/2018 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 108/2014/NĐ-CP, thành phố đã giảm được 10 đơn vị sự nghiệp công lập, thực hiện tinh giản 4.132 biên chế. Cụ thể đã giảm 3.952 trường hợp, do cắt giảm không giao biên chế cho đơn vị sự nghiệp công lập đang thực hiện theo cơ chế tự chủ; giảm 180 trường hợp theo quy định tinh giản biên chế. Tính đến nay, đã thực hiện tinh giản biên chế đối với 771 trường hợp kể từ khi triển khai Nghị định số 108/2014/NĐ-CP về chính sách tinh giản biên chế.

Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố và Quy chế (mẫu) về tổ chức và hoạt động của phòng chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân quận, huyện. Thành lập thí điểm Ban Quản lý An toàn thực phẩm thành phố; tổ chức thí điểm Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng Nhân dân thành phố; thành lập Trung tâm Báo chí thành phố; kiện toàn các Ban Quản lý dự án thuộc Ủy ban nhân dân thành phố; chuyển giao chức năng, nhiệm vụ về các Sở cho phù hợp; sáp nhập các đơn vị sự nghiệp thuộc ủy ban nhân dân quận - huyện. 

Thành phố ban hành và triển khai Kế hoạch sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã trong giai đoạn 2019 - 2021: thành phố có 24 đơn vị hành chính cấp huyện gồm 19 quận và 5 huyện; 322 đơn vị hành chính cấp xã (gồm 259 phường, 58 xã và 5 thị trấn). Theo quy định, số đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã thuộc diện phải sắp xếp trong giai đoạn 2019 - 2021 như sau: (1) cấp huyện: Không đơn vị; (2) cấp xã: 10 phường (nhập 02 phường thành 01 phường mới: 09 trường hợp; nhập 03 phường thành 01 phường mới: 01 trường hợp). Số đơn vị hành chính cấp xã sau khi sắp xếp: Giảm 10 đơn vị (từ 322 xuống còn 312, tỷ lệ giảm 3,11%). Tổng số đơn vị hành chính cấp xã sau khi sắp xếp: 312 (249 phường; 58 xã; 05 thị trấn). Tổ chức lại khu phố, ấp và tổ dân phố (thành phố có 2.008 khu phố - ấp và 25.418 tổ dân phố - tổ nhân dân với 1.994.686 hộ dân (8.826.618 dân) trên 259 phường, 58 xã, 5 thị trấn (1.604 khu phố và 404 ấp; 19.601 tổ dân phố và 5.817 tổ nhân dân). Tổ chức và hoạt động của tổ dân phố - tổ nhân dân, khu phố - ấp được thực hiện theo Quyết định số 24/2017/QĐ-UBND ngày 25 tháng 4 năm 2017 của Ủy ban nhân dân thành phố. Nghiên cứu, xây dựng Đề án Chính quyền Đô thị.

110 Chương trình hành động số 18-CTrHĐ/TU của Thành ủy về cải cách hành chính giai đoạn 2016 - 2020; Quyết định số 6119/QĐ-UBND ngày 22 tháng 11 năm 2016 của Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ X về Chương trình cải cách hành chính giai đoạn 2016 - 2020; Quyết định số 1250/QĐ-UBND ngày 30 tháng 3 năm 2018 của Ủy ban nhân dân thành phố về sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Quyết định ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ X về Chương trình cải cách hành chính giai đoạn 2016 - 2020; Quyết định số 2421/QĐ-UBND ngày 06 tháng 6 năm 2018 ban hành Kế hoạch bổ sung Chương trình cải cách hành chính của thành phố đến năm 2020 theo Nghị quyết số 02/NQ-HĐND ngày 15 tháng 3 năm 2018 của Hội đồng nhân dân thành phố; Quyết định số 5334/QĐ-UBND ngày 29 tháng 11 năm 2018 của Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình cải cách hành chính của thành phố giai đoạn 2018 - 2020.

111 Xây dựng quy chế phối hợp trong giải quyết thủ tục hành chính, quy trình nội bộ, liên thông một cửa điện tử, triển khai ứng dụng phòng họp không giấy, nhắc việc tức thời; triển khai các ứng dụng trực tuyến tại quận - huyện, sở, ngành và thành phố (Cổng 1022).

112 Kết quả năm 2019 đạt 82,33% ý kiến tỷ lệ hài lòng đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính Nhà nước các cấp trên địa bàn thành phố, vượt chỉ tiêu 80% của Chính phủ.

113 Cho đến giữa năm 2020 vẫn chưa có hướng dẫn của Chính phủ về định giá tài sản và vốn của các doanh nghiệp cổ phần hóa, các bộ, ngành chưa thống nhất việc bán tài sản của cơ quan đảng trên địa bàn thành phố.

114 Kế hoạch số 100-KH/TU ngày 17 tháng 3 năm 2017 của Ban Thường vụ Thành ủy về thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh năm 2017.

115 - Đối với Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn - trách nhiệm hữu hạn một thành viên: Năm 2017, qua thanh tra toàn diện đã phát hiện những sai phạm liên quan đến việc quản lý và sử dụng đất đai, hoạt động sản xuất, kinh doanh, thực hiện các dự án đầu tư, thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước; qua đó, đã tiến hành thu hồi số tiền 11.089.304.470 đồng. Năm 2019, tiến hành thanh tra việc chấp hành các quy định pháp luật trong công tác quản lý, sử dụng đất đai; quản lý, sử dụng tài chính; thực hiện dự án và chuyển nhượng dự án; qua thanh tra, đã phát hiện những sai phạm liên quan đến quản lý và sử dụng đất đai, quản lý và sử dụng vốn, tài sản công, thực hiện các dự án đầu tư; qua đó, đã tiến hành thu hồi số tiền 18.791.380.638 đồng. Chuyển cơ quan điều tra xử lý 01 vụ việc.

- Đối với Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Phát triển Công nghiệp Tân Thuận: Năm 2017, tiến hành thanh tra phòng, chống tham nhũng trong quản lý, sử dụng vốn Nhà nước; năm 2018, thanh tra việc chấp hành pháp luật trong hoạt động sản xuất, kinh doanh; năm 2019, thanh tra việc chấp hành pháp luật trong các lĩnh vực thực hiện đầu tư dự án, góp vốn liên doanh, công tác cổ phần hóa. Qua thanh tra, phát hiện những sai phạm và đã tiến hành thu hồi số tiền 684.131.151.562 đồng. Chuyển cơ quan điều tra xử lý 7 vụ việc.

- Đối với Tổng Công ty Địa ốc Sài Gòn - Trách nhiệm hữu hạn một thành viên: Năm 2019, tiến hành thanh tra việc bán chỉ định 09 nhà, đất, mặt bằng, kho bãi (công sản); qua thanh tra phát hiện sai phạm quản lý và sử dụng đất đai, thực hiện các dự án đầu tư; qua đó, tiến hành thu hồi 54.192.717.344 đồng. Chuyển cơ quan điều tra xử lý 01 vụ việc.

- Đối với Ban bồi thường giải phóng mặt bằng quận Tân Phú: tiến hành thanh tra việc chi cho các đối tượng không thuộc đối tượng được bồi thường trong các dự án, phương án do Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng Quận làm chủ đầu tư với số tiền là 54.405.188.587 đồng và chuyển cơ quan điều tra xử lý vụ việc. Ngày 14 tháng 5 năm 2019, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã có bản án đối với các cá nhân, tổ chức có liên quan.

116 Quản lý, điều hành ngân sách; mua sắm, sử dụng phương tiện đi lại và phương tiện, thiết bị làm việc; đầu tư xây dựng; quản lý, sử dụng vốn và tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp, thực hiện chỉ đạo, điều hành, thông tin báo cáo qua mạng.

117 Trong 5 năm qua, Mặt trận Tổ quốc các cấp đã tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm, hội thi với chủ đề “Tôi yêu hàng Việt” từ cấp cơ sở đến thành phố, tuyên truyền, vận động người dân ưu tiên mua sắm hàng Việt. Tổ chức Hội nghị Tuyên dương 125 gương “Người tốt việc tốt tiêu biểu” giai đoạn 2010 - 2015. Công tác vận động ủng hộ Quỹ “Vì người nghèo” tiếp tục được triển khai sâu rộng. Toàn thành phố đã vận động được trên 900 tỷ đồng để chăm lo cho người nghèo thành phố. Quỹ “Vì biển đảo quê hương - Vì tuyến đầu Tổ quốc” thành phố đã vận động được trên 209 tỷ đồng và thực hiện chăm lo với số tiền trên 186 tỷ đồng. Tổ chức các hội nghị phản biện xã hội, góp ý đối với các dự án Luật, các đề án, kế hoạch và các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân các cấp. Tổ chức đón tiếp nhiều đoàn đại biểu cấp cao của tổ chức Mặt trận Tổ quốc, tổ chức Nhân dân các nước đến thăm và trao đổi kinh nghiệm về hoạt động, đồng thời, tổ chức các đoàn đại biểu thành phố sang thăm và làm việc với các tổ chức Mặt trận Tổ quốc, tổ chức Nhân dân các nước nhằm tăng cường sự hiểu biết giữa Nhân dân các nước với Nhân dân thành phố, về vai trò của Mặt trận Tổ quốc thành phố trong đời sống xã hội. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố đã tổ chức thực hiện có hiệu quả Chương trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ X, trong đó chú trọng nâng cao nhận thức, trình độ chính trị, chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, công chức của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

118 Trong giai đoạn từ 2015 đến 2019: Liên đoàn Lao động thành phố đã kết nạp 618.766 đoàn viên công đoàn và thành lập mới 9.390 công đoàn cơ sở; kết nạp 13.469 đảng viên mới; tổng kinh phí chăm lo Tết cho đoàn viên, công nhân, viên chức, lao động của thành phố là 1.418,4 tỷ đồng; Phong trào thi đua “Lao động giỏi - Lao động sáng tạo” với 24.350 sáng kiến cải tiến kỹ thuật mang lại giá trị làm lợi cho đơn vị, doanh nghiệp hơn 1.048 tỷ đồng; Chương trình “Tấm vé nghĩa tình” đã trao tặng 253.419 vé xe, trị giá 176,141 tỷ đồng; Chương trình “Trái tim nghĩa tình” đã hỗ trợ chi phí phẩu thuật tim cho 17 trường hợp là công nhân và con công nhân với kinh phí gần 1,4 tỷ đồng; Chương trình “Mái ấm công đoàn” đã tổ chức trao tặng 392 căn nhà cho các gia đình công nhân, lao động có hoàn cảnh khó khăn với kinh phí hỗ trợ 24,968 tỷ đồng; Giải thưởng “Tôn Đức Thắng” đã tôn vinh 54 kỹ sư, công nhân tiêu biểu có nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật, đề tài nghiên cứu khoa học thiết thực, được áp dụng vào thực tiễn mang lại giá trị làm lợi cho doanh nghiệp và xã hội; “Giải thưởng 28/7” đã tôn vinh 50 Chủ tịch Công đoàn cơ sở giỏi, có nhiều thành tích, sáng tạo mang lại hiệu quả cao trong hoạt động Công đoàn và được đoàn viên tín nhiệm.

119 Trong nhiệm kỳ, các cấp bộ Đoàn đã phát triển mới tổng cộng 351.431 đoàn viên mới, tính đến hết năm 2019, tỷ lệ tập hợp thanh niên tham gia tổ chức Đoàn đạt 66,89%; giới thiệu 82.188 đoàn viên ưu tú cho tổ chức Đảng xem xét kết nạp, tổ chức bình chọn và tuyên dương 81.749 gương điển hình Thanh niên tiên tiến làm theo lời Bác; đề xuất 615.828 ý tưởng, sáng kiến góp phần xây dựng thành phố văn minh, xây dựng tổ chức Đoàn vững mạnh và tổ chức 668 hoạt động chuyển giao khoa học - công nghệ; tư vấn hướng nghiệp cho hơn 1,7 triệu lượt đoàn viên, thanh niên; giới thiệu việc làm cho 496.306 lượt đoàn viên, thanh niên trên địa bàn thành phố; tổ chức 5.306 hoạt động hướng về biển, đảo quê hương; các hoạt động văn minh đô thị được chú trọng đầu tư, đẩy mạnh. Trong nhiệm kỳ đã có hơn 1,82 triệu lượt đoàn viên, thanh niên tham gia các hoạt động tình nguyện các cấp, tổ chức 321.568 lượt chăm lo các đối tượng chính sách, gia đình có công, các Bà Mẹ Việt Nam anh hùng,.. xây dựng 118 “Chung cư văn minh - sạch đẹp - an toàn”, 894 “Tuyến hẻm có hệ thống điện an toàn, mỹ quan, tiết kiệm”, xây dựng mới và duy trì 613 không gian xanh tại các khu dân cư, khu lưu trú công nhân, cải tạo mỹ quan 155 tuyến kênh, xây dựng mới 716 nhà tình nghĩa, nhà tình bạn, xây mới 141 cầu giao thông nông thôn.

120 Trong 5 năm qua, Hội Nông dân các cấp đã phát triển được 12.491 hội viên, nâng tổng số hội viên hiện nay là 63.167 hội viên,; có 93 cơ sở Hội, 713 chi hội, 3.496 tổ hội, trong đó có 158 chi hội và 334 tổ hội ngành nghề; đã giới thiệu 843 lượt hội viên ưu tú cho Đảng và có 288 hội viên ưu tú được kết nạp Đảng; hỗ trợ 8.328 hộ hội viên thoát nghèo; hỗ trợ 519,1 tỷ đồng nguồn vốn Quỹ Hỗ trợ nông dân cho 22.997 lượt hộ vay; đào tạo nghề cho 46.744 hội viên; vận động được 63,5 tỷ đồng quỹ Tết nghĩa tình, xây dựng 203 căn nhà tình thương, tặng 25.861 phần quà Tết, 1.561 bồn chứa nước sạch, 14.183 thẻ bảo hiểm y tế, 775 công cụ sản xuất, 344 sổ tiết kiệm nghĩa tình, 9.022 suất học bổng với tổng số tiền 86,4 tỷ đồng.

121 Trong 5 năm qua, Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp đã có nhiều đổi mới trong công tác tuyên truyền, tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý miễn phí tại cộng đồng và công tác góp ý văn bản Luật, công tác giám sát được các cấp Hội tập trung thực hiện. Công tác quản lý nguồn vốn được đảm bảo chặt chẽ, đúng quy chế, phát vay đúng đối tượng, sử dụng vốn đúng mục đích, tỷ lệ thu hồi đạt trên 99,8%, phong trào “Ngày tiết kiệm vì phụ nữ nghèo” được các cấp Hội duy trì liên tục 24 năm qua với kết quả vận động đạt trên 4 tỷ đồng/ năm. Đã phát vay không lãi suất cho 140 phụ nữ khuyết tật 836 triệu đồng và 46 phụ nữ dân tộc thiểu số với số tiền 333 triệu đồng. Trao 2.106 phương tiện sinh kế với tổng số tiền hơn 9,3 tỷ đồng; 33.457 suất học bổng Nguyễn Thị Minh Khai (vượt chỉ tiêu nhiệm kỳ 30.000 suất), với hơn 42,7 tỷ đồng. Đã xây dựng Hệ thống Đào tạo trực tuyến Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố; thực hiện dự án phần mềm quản lý hội viên, sổ sách trong hệ thống Hội. Chủ động đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền, vận động phù hợp với các nhóm phụ nữ như nữ công nhân lao động nhập cư, thanh thiếu niên, trong nhóm phụ nữ yếu thế, phạm nhân nữ đang thi hành án tại trại tạm giam... Nhiều phong trào được tổ chức thiết thực hiệu quả như: tuyên dương gương Người con hiếu thảo; “Gia đình văn hóa, hạnh phúc tiêu biểu”; Danh hiệu “Cán bộ hội cơ sở giỏi”, “Phụ nữ tiêu biểu”...

122 Hội Cựu chiến binh các cấp tập trung củng cố, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng lực lượng chính trị nòng cốt; vận động hội viên tích cực tham gia công tác xây dựng Đảng, chính quyền. Huy động nguồn lực hướng vào mục tiêu giảm hộ nghèo, tăng hộ khá, đẩy mạnh hoạt động Quỹ hỗ trợ cựu chiến binh nghèo thành phố như: chăm lo tết cho hội viên: 3.323.936.000 đồng; giúp hội viên vay nguồn vốn của Thành ủy: 44.977.410.000 đồng; hội viên đóng góp Quỹ hỗ trợ cựu chiến binh nghèo thành phố: 2.605.823.000 đồng; hội viên đóng góp xây nhà tình nghĩa, tình thương, sửa chữa (lấy nguồn đóng góp của hội viên 50.000 đ/nhiệm kỳ): 2.012.000.000 đồng. Tổng cộng 4 chương trình với tổng số tiền: 52.919.169.000 đồng. Vận động hội viên và các mạnh thường quân xây dựng 856 căn nhà tình nghĩa, tình thương, sửa chữa nhà, với số tiền 6.074.000.000 đồng; đóng góp ủng hộ Quỹ “Vì người nghèo”: 7.247.000.000 đồng; ủng hộ đồng bào bị thiên tai bão lũ: 3.272.000.000 đồng; Quỹ nạn nhân bị chất độc hóa học: 912.000.000 đồng; Quỹ khuyến học: 5.977.000.000 đồng; Quỹ “Vì biển đảo quê hương - Vì tuyến đầu Tổ quốc”: 2.863.000.000 đồng.

123 Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật và 09 hội văn học, nghệ thuật thành phố đã tổ chức nhiều hoạt động sáng tác và quảng bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật cách mạng, tiến bộ, cơ bản đáp ứng nhu cầu hưởng thụ đa dạng, phong phú ngày càng cao của các tầng lớp Nhân dân (thành lập Giải thưởng Văn học - Nghệ thuật thành phố nhằm tôn vinh các tác giả có tác phẩm giá trị trong từng giai đoạn (5 năm một lần), hiện giải thưởng lần thứ hai, giai đoạn 2011 - 2017 đã công nhận và trao thưởng 53 tác phẩm. Thành phố tổ chức 04 đợt xét và trao Giải thưởng sáng tác, quảng bá tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí chủ đề “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, từ năm 2015 đến nay đã trao giải sáng tác cho 84 tác phẩm (thuộc 16 tập thể, 13 cá nhân) và trao giải quảng bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật cho 16 cá nhân); thành phố quan tâm đầu tư kinh phí cho hoạt động văn học, nghệ thuật; khuyến khích, tạo điều kiện để hội viên, đội ngũ văn nghệ sĩ sáng tác các tác phẩm mới có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, bám sát thực tiễn sự nghiệp xây dựng, bảo vệ thành phố (từ năm 2015 đến nay, đã tổ chức 110 lượt trại sáng tác và đi thực tế sáng tác, qua đó, đã có nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có chất lượng cao về tư tưởng, nghệ thuật), đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ chính trị, góp phần tích cực trong xây dựng và phát triển văn hóa, con người thành phố.

124 Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố và các hội thành viên đã có bước phát triển quan trọng, quan tâm củng cố, kiện toàn và phát triển tổ chức, nâng cao chất lượng tổ chức Hội và hội viên; tích cực nghiên cứu phát triển khoa học tự nhiên và ứng dụng công nghệ hiện đại; phát triển khoa học xã hội - nhân văn, gắn với xây dựng văn hóa, con người thành phố, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn với phát triển kinh tế tri thức; xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao; tham gia cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị thông minh. Tập họp đông đảo đội ngũ trí thức với nhiều nhà khoa học trong và ngoài thành phố, người Việt Nam ở nước ngoài tham gia tư vấn, phản biện các chính sách, đề án, dự án lớn của thành phố; chủ trì, phối hợp thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu có liên quan, đóng góp tích cực vào thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, kế hoạch phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của thành phố. Các Hội thành viên và các đơn vị trực thuộc Liên hiệp hội đã nỗ lực hoàn thành các dự án tư vấn, phản biện và giám định xã hội thuộc các lĩnh vực liên quan, cung cấp cho các sở, ban, ngành và các chủ đầu tư những luận cứ khoa học khách quan làm cơ sở để các cơ quan phê duyệt hoặc điều chỉnh, bổ sung hoàn chỉnh bộ hồ sơ và hoàn thiện chương trình, dự án; tổ chức nhiều hoạt động nghiên cứu, phổ biến kiến thức khoa học có giá trị khác.

125 GRDP bình quân đầu người năm 2011 đạt 3.599USD/người, năm 2020 đạt 6.328 USD/người, gấp 1,79 lần.

126 Năm 2030: kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; năm 2045: kỷ niệm 100 năm ngày thành lập Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam).

127 Theo phân loại của Ngân hàng thế giới, các nền kinh tế có thu nhập cao là những nền kinh tế có thu nhập bình quân đầu người từ 12.536 USD trở lên.

128 Dự kiến đến năm 2025 dân số Thành phố khoảng 10.256.980 người (tăng bình quân 2,13%); đến 2030 dân số Thành phố khoảng 11.049.681 người (tăng bình quân 1,5%); đến 2045 dân số Thành phố khoảng 13.214.704 người (tăng bình quân 1,2%). Đồng thời định hướng cán cân thương mại của Việt Nam cũng như Thành phố là đẩy mạnh xuất khẩu, tận dụng lợi thế từ các hiệp định thương mại, thu ngoại tệ về cho đất nước nên tỷ giá được kiểm soát trong biên độ tăng 1-1,5%/năm. Như vậy dự kiến: đến 2025 tỷ giá VND/USD khoảng 25.237 (trượt giá bình quân 1,5%); đến 2030 tỷ giá VND/USD khoảng 26.524 (trượt giá bình quân 1%); đến 2045 tỷ giá VND/USD khoảng 30.794 (trượt giá bình quân 1%). Từ các tính toán giả định trên, đến 2025 GRDP bình quân đầu người của Thành phố sẽ đạt khoảng 8.500-8.800USD; đến 2030 GRDP bình quân đầu người của Thành phố sẽ đạt khoảng 12.688 -13.048USD; đến 2045 GRDP bình quân đầu người của Thành phố sẽ đạt khoảng 38.604 -40.821USD.

- Xếp hạng chỉ số Smart Cities (do IMD World Competitiveness Center - Trung tâm năng lực cạnh tranh toàn cầu thuộc Viện quốc tế về phát triển Quản lý nghiên cứu), bao gồm dữ liệu của 109 thành phố, đánh giá nhận thức của người dân về 2 trụ cột: (1) Cơ sở hạ tầng công nghệ hiện có của Thành phố và (2) Mức độ sẵn sàng đáp ứng dịch vụ công nghệ cho người dân. Mỗi trụ cột này đánh giá trên 5 lĩnh vực: sức khỏe và an toàn, tính năng động, phạm vi hoạt động, cơ hội và quản trị. Theo đó Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị thông minh xếp hạng 83/109, ở mức độ CCC, thuộc nhóm 4. Với đánh giá chi tiết của Thành phố Hồ Chí Minh, so sánh với một số Thành phố thuôc nhóm 3 như Kuala Lumpur (Malaysia); Bangkok (Thailand), Thành phố Hồ Chí Minh hoàn toàn có thể phấn đấu lên nhóm 3, mục tiêu lên nhóm 2 vào năm 2045.

- Theo báo cáo về chỉ số Hạnh phúc thế giới năm 2020 của Liên hiệp quốc, chỉ số hạnh phúc của thành phố toàn cầu theo tiêu chí Đánh giá cuộc sống hiện tại và Đánh giá cuộc sống mong đợi trong tương lai, Thành phố Hồ Chí Minh xếp hạng 138/186 (Hà nội (135); Metro Bangkok - Thái Lan (56); Metro Manila - Philippine (89); Vientiane-Laos (143); Yangon - Myanmar (165); PhnomPenh - Cambodia (167). Do vậy, đến năm 2025 chỉ số hạnh phúc của Thành phố Hồ Chí Minh tăng thêm 10 bậc so năm 2020; đến năm 2030 tăng thêm 20 bậc so năm 2025; đến năm 2045: Phấn đấu nằm trong top 60 thành phố toàn cầu về chỉ số hạnh phúc.

- Việc xếp loại chỉ số chất lượng sống theo đánh giá của Mercer (công ty tư vấn toàn cầu về nhân tài, sức khỏe, hưu trí và đầu tư) dựa vào các đặc tính: (1) Hàng tiêu dùng; (2) Môi trường kinh tế; (3) Nhà ở; (4) Cân nhắc về y tế và sức khỏe; (5) Trường học và giáo dục; (6) Môi trường tự nhiên; (7) Môi trường chính trị và xã hội; (8) Dịch vụ công cộng và giao thông; (9) Giải trí; (10) Môi trường văn hóa xã hội của 231 thành phố. Theo đó, Thành phố Hồ Chí Minh xếp hạng 153/231 (Hà Nội (155); Jakarta (142); Manila (137); Bangkok (133); Kuala Lumpur (85). Do vậy, đến năm 2025 chỉ số chất lượng sống của TP.HCM tăng thêm 20 bậc so năm 2020, đến năm 2030 tăng thêm 20 bậc so năm 2025; đến năm 2045: Phấn đấu nằm trong top 100 thành phố toàn cầu về chỉ số chất lượng sống.

129 Dự báo sẽ có tình huống kinh tế thành phố tăng trưởng dưới 8% trong giai đoạn 2021 - 2025 do tác động của bối cảnh thế giới với nhiều yếu tố biến động, bất lợi, khó lường và nền kinh tế trong nước nói chung, hoạt động kinh tế trên địa bàn thành phố nói riêng cần thời gian cũng như điều kiện thuận lợi cho các nỗ lực phục hồi. Thành phố xây dựng các kịch bản đối với tình huống này để phấn đấu đạt kết quả khả quan nhất. GRDP (hiện hành) bình quân đầu người năm 2025 trên cơ sở các giả định sẽ từ 8.500 USD/người đến  9.000 USD/người. Chỉ tiêu này vừa phụ thuộc vào tình hình tăng trưởng kinh tế, vừa phụ thuộc vào diễn biến diễn biến các hệ số giả định để tính toán. 

130 Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 19% trong GRDP.

131 Bao gồm ngân sách và ngoài ngân sách.

132 Chi cho khoa học - công nghệ thành phố của toàn xã hội giai đoạn 2016 - 2020 ước đạt 0,83%/GRDP (năm 2016:1,48%/GRDP; năm 2017: 0,65%/GRDP; năm 2018: 0,84%/GRDP; năm 2019: 0,85%/ GRDP; năm 2020: ước 0,47%/GRDP).

133 Chỉ tiêu cả nước vào 2020: 08 bác sĩ/vạn dân, 28 giường bệnh/vạn dân.

134 Diện tích nhà bình quân năm 2020 là 20m2/người; của cả nước là 25 m2/người.

135 Diện tích công viên trong thành phố năm 2020 đạt hơn 500ha, tương ứng khoảng 0,55m2/người.

136 Xây dựng sàn giao dịch hàng hóa và các chuỗi cung ứng, phân phối hàng hóa quy mô lớn có sự tham gia của các doanh nghiệp phân phối lớn, doanh nghiệp logistics, các trang trại và doanh nghiệp sản xuất trong nước.

137 Xây dựng kế hoạch phát triển phố chuyên doanh ẩm thực về đêm và đa dạng hóa các loại hình du lịch, sản phẩm du lịch, gắn với xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ để thu hút du khách du lịch.

138 Trong đó tập trung vào 6 phân ngành công nghiệp ưu tiên (Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn, thiết bị điện, chế biến thực phẩm, đồ uống, thiết bị điện tử - công nghệ thông tin, sản phẩm từ cao su - plastic).

139 Bao gồm: du lịch và dịch vụ giải trí về biển; kinh tế cảng, hàng hải; khai thác năng lượng từ biển; quy hoạch phát triển bền vững các khu vực sản xuất nuôi trồng và đánh bắt hải sản.

140 Kiên trì kiến nghị Trung ương xây dựng Trung tâm tài chính của quốc gia đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh trong chiến lược phát triển giai đoạn 2020 - 2030.

141 Trên cơ sở xây dựng và triển khai hiệu quả, đồng bộ các chính sách hỗ trợ hình thành mạng lưới các tổ chức trung gian, đẩy mạnh hoạt động Sàn giao dịch công nghệ, hỗ trợ nghiên cứu phát triển, thương mại hóa, giải mã, chuyển giao công nghệ và hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

142 Triển khai Đề án “Giải pháp nhà ở đáp ứng gia tăng dân số 2 triệu người giai đoạn 2020 - 2030”.

143 Theo hướng tuân thủ nguyên tắc phân phối theo lao động và quy luật khách quan của kinh tế thị trường, lấy tăng năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh là cơ sở để tăng lương.

144 Phấn đấu phát triển 300 hợp tác xã và 05 liên hiệp hợp tác xã; tốc độ tăng trưởng khu vực kinh tế hợp tác xã đạt 7%/năm; tỷ trọng đóng góp vào GRDP thành phố 0,5%; thu hút thêm 30.000 lao động làm việc trong khu vực kinh tế hợp tác xã; tỷ lệ cán bộ quản lý hợp tác xã đã qua đào tạo có trình độ đại học, cao đẳng đạt trên 60%; còn lại đạt trình độ trung cấp và sơ cấp.

145 Áp dụng các cơ chế, chính sách đặc biệt, có tính đột phá nhằm phát huy vai trò nòng cốt trong nghiên cứu phát triển, đổi mới sáng tạo, ứng dụng và chuyển giao công nghệ và hợp tác quốc tế.

146 Các chỉ tiêu về thể dục thể thao: Người dân tự giác tập luyện thể thao thường xuyên: 35%: Đảng viên tự giác tập luyện thể thao thường xuyên: 65%: Học sinh đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể: 99%.

147 Thực hiện khởi công xây dựng mới các công trình: Rạp Xiếc và Biểu diễn đa năng Phú Thọ, Bảo tàng Tôn Đức Thắng, Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ, Trung tâm thể dục thể thao Phan Đình Phùng, Nhà hát Giao hưởng, Nhạc - Vũ kịch, Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh, Nhà hát Nghệ thuật truyền thống, Trung tâm Văn hóa - Thể thao đa năng Thành phố Hồ Chí Minh tại huyện Cần Giờ, quảng trường Hồ Chí Minh và Trung tâm Tổ chức Biểu diễn nghệ thuật đa năng tại Khu đô thị mới Thủ Thiêm, các dự án thành phần tại Khu Liên hợp thể dục thể thao quốc gia Rạch Chiếc, Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu Thành phố Hồ Chí Minh tại Phú Thọ, Trung tâm Văn hóa thành phố,... 

148 Các chỉ tiêu về văn hóa cơ sở: Tỷ lệ gia đình đạt chuẩn gia đình văn hóa: 94%; Tỷ lệ khu phố văn hóa, ấp văn hóa: 98%; Tỷ lệ doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa: 85%; Tỷ lệ phường, thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị, xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới: 72%; Tỷ lệ cơ quan, đơn vị đạt chuẩn văn hóa: 98%; Hộ gia đình được phổ biến, tuyên truyền tốt các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật về hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng chống bạo lực gia đình, ngăn chặn các tệ nạn xã hội xâm nhập vào gia đình: 95%.

149 Xây dựng và quản lý thực hiện tốt các Quy hoạch 1/5.000, 1/2.000 trên địa bàn thành phố. Lập sa bàn phát triển và hệ thống cơ sở dữ liệu đối với từng khu vực đô thị, bổ sung hoàn thiện cơ chế chính sách làm cơ sở quản lý chặt chẽ, có hiệu quả đối với công tác triển khai thực hiện quy hoạch.

150 Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế trong lĩnh vực quy hoạch và phát triển sông, kênh rạch, mô phỏng tình trạng ngập nước và thoát nước để có những giải pháp phù hợp, xây dựng mô hình hợp tác giữa nhà nước, người dân và doanh nghiệp trong phát triển vùng đất ven sông và kênh rạch đảm bảo yêu cầu thuận tự nhiên, thuận con người, thuận doanh nghiệp và thuận chính quyền.

151 Hạ tầng xanh đô thị: Về mặt không gian là những không gian mở, mặt nước, công viên trung tâm, rừng, hành lang xanh, cây lề đường và kể cả những không gian mở tại vùng nông thôn. Kết nối các công viên lớn nhỏ trong đô thị tạo thành mạng lưới hạ tầng xanh sẽ mang lại nhiều lợi ích cho môi trường đô thị. Nó hỗ trợ các quá trình sinh lý của tự nhiên như: thủy văn, đa dạng sinh học, kết nối các dòng thông tin, vật chất... Hạ tầng xanh dùng đất đai và thảm thực vật cùng những yếu tố thực tiễn nhằm khôi phục những quá trình tự nhiên cần thiết cho quản lý nước bền vững, tạo môi trường đô thị lành mạnh hơn.

152 Tăng cường các biện pháp bảo vệ môi trường, ngăn chặn, xử lý theo pháp luật nhằm chấm dứt tình trạng gây ô nhiễm môi trường. 

153 Đề án phát triển kết cấu hạ tầng giao thông trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2020 - 2030.

154 Phấn đấu khép kín Vành đai 2 với chiều dài 13,75 km đường, đầu tư đường Vành đai 3 (tổng chiều dài 92,6 km, trong đó đoạn qua địa bàn thành phố khoảng 54km), cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Mộc Bài, các tuyến Metro 1 và 2, tuyến BRT số 1. Vận tải hàng hóa thông qua cảng biển tăng bình quân 5% hàng năm; vận tải hàng hóa thông qua cảng sông, bến thủy nội địa tăng bình quân 5% hàng năm.

155 Đề án tăng cường vận tải hành khách công cộng kết hợp kiểm soát sử dụng phương tiện cơ giới cá nhân tham gia giao thông trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

156 Các nước thuộc khu vực CPTPP và EVFTA: hợp tác về thương mại, đầu tư; khu vực Đông Bắc Á: hợp tác lao động, giao lưu văn hóa, đối ngoại nhân dân; khu vực ASEAN: hợp tác kết nối cộng đồng; khu vực Tây Âu và Singapore: hợp tác về trung tâm tài chính, đô thị thông minh, giáo dục, môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu; các quốc gia như Hoa Kỳ, Australia, Đức: hợp tác trong lĩnh vực khởi nghiệp, công nghệ cao, đào tạo nghề; Đông Âu và Nga: trao đổi văn hóa và hợp tác truyền thống hữu nghị.

157 Triển khai hiệu quả, thiết thực các hoạt động ngoại giao văn hóa, góp phần quảng bá du lịch, văn hóa của Việt Nam và thành phố đến bạn bè quốc tế. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác đối ngoại để đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế của thành phố. Xây dựng và triển khai thành công Đề án bồi dưỡng nghiệp vụ đối ngoại và ngoại ngữ cho cán bộ, công chức, viên chức Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2020 - 2025.

158 Xây dựng và đề xuất triển khai Đề án Thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh. Định hướng tổ chức lại các đơn vị hành chính (quận 2, quận 9, quận Thủ Đức) thuộc khu đô thị sáng tạo phía Đông (thành lập thành phố thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Đổi mới cơ chế, chính sách phân cấp quản lý giữa Trung ương với chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh. Đẩy mạnh phân cấp, ủy quyền cho cá nhân, cơ quan cấp dưới theo quy định; nâng cao hiệu quả phối hợp trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo điều hành. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính với những giải pháp thiết thực, cụ thể lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo đánh giá hiệu quả công tác cải cách hành chính. 

159 Phát huy vai trò Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố và Nhân dân giám sát Đảng và Chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh 2020 - 2025; tổ chức Phong trào thi đua sáng tạo và các giải thưởng sáng tạo Thành phố Hồ Chí Minh 2020 - 2030.

 

 


Số lượt người xem: 78    

TIN MỚI HƠN

TIN ĐÃ ĐƯA